Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 20/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường và ông Lương Ngọc Vượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLST- HS ngày 23/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST- HS ngày 07/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn C, sinh năm 1964, tại huyện G - thành phố Hà Nội. HKTT: Thôn B, G, xã B, huyện G, thành phố Hà Nội, nơi ở hiện tại: Thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị Minh C1; vợ là Nguyễn Thị U; có 01 con sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H (có mặt).
  2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996, tại huyện G - thành phố Hà Nội. HKTT: Thôn A, Giang C2, xã B, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị D; vợ là Đoàn Thị Quỳnh H, có 01 con sinh năm 2024; tiền án: Ngày 07/4/2015 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa chấp hành xong phần án phí HSST và nộp lại số tiền cần truy thu); tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H (có mặt).

Người chứng kiến:

  • - Ông Lê Văn C3, sinh năm 1965. Trú tại: Xóm A, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Mạnh Q1, sinh năm 1987. Trú tại: Thôn D, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 24/10/2024, tại khu vực đường đê thuộc xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Văn Q (SN 1996, trú tại thôn A G, xã B, huyện G, Hà Nội) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; vật chứng thu giữ gồm 01 túi đeo chéo màu đen bên trong có 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1) và 01 điện thoại iPhone; Q khai số ma túy này mua của Lê Văn C (SN 1964, trú tại thôn G, xã Đ, huyện G, Hà Nội) để sử dụng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn C, thu giữ 01 cân tiểu ly; 10 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu MT2) cùng một số vật dụng khác; thu trên người Cán 02 điện thoại S; C khai nhận số ma túy trên để sử dụng và bán.

Kết luận giám định số 667/KL-KTHS(MT) ngày 27/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: tinh thể màu trắng trong mẫu MT1, MT2 là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng lần lượt là 0,513g và 3,578g.

Lời khai của các bị cáo xác định: Đầu tháng 10/2024, Lê Văn C mua ma túy của một người không rõ lai lịch tại khu vực đê phường T, quận L, Hà Nội với giá 1.850.000 đồng, sau đó chia thành 25 túi để sử dụng và bán; ngày 14/10/2024, C bán cho Nguyễn Văn Q 10 túi với giá 3.000.000 đồng, Q trả trước 2.000.000 đồng, còn nợ 1.000.000 đồng; Q đã sử dụng hết 08 túi, còn 02 túi cất trong túi đeo chéo mang theo người đến khi bị bắt quả tang; số ma túy còn lại, C đã sử dụng 05 túi, còn 10 túi bị thu giữ tại nhà.

Quá trình điều tra xác định khối lượng trung bình của mỗi túi ma túy do C bán là 0,2565g, như vậy tổng khối lượng 10 túi ma túy Cán bán cho Q là 2,565g Methamphetamine. Lê Văn C không thừa nhận số lượng ma túy đã bán cho Q nhưng căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Q và vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận Lê Văn C đã bán cho Q 2,565g Methamphetamine.

Vật chứng vụ án gồm: 0,495g Methamphetamine (MT1) và 3,520g Methamphetamine (MT2) trong 01 niêm phong hoàn lại sau giám định; các vỏ túi nilon đựng ma túy và phong bì niêm phong mẫu giám định; 02 điện thoại Samsung của Lê Văn C; 01 điện thoại iPhone của Nguyễn Văn Q; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 cân tiểu ly điện tử; 01 ví giả da màu đen; 01 mảnh giấy hướng dẫn sử dụng thuốc Otrivin, hiện được bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh H.

Cáo trạng số: 31/CT-VKS-P1 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lê Văn C về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

  • - Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
  • - Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm được xác định là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của các bị cáo phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 667/KL-KTHS(MT) ngày 27/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận:

Đầu tháng 10/2024, Lê Văn C mua ma túy của một người không rõ lai lịch tại khu vực đê phường T, quận L, Hà Nội với giá 1.850.000 đồng, sau đó chia thành 25 túi để sử dụng và bán; ngày 14/10/2024, C bán cho Nguyễn Văn Q 10 túi với giá 3.000.000 đồng, Q trả trước 2.000.000 đồng, còn nợ 1.000.000 đồng; Q đã sử dụng hết 08 túi, còn 02 túi cất trong túi đeo chéo mang theo người đến khi bị bắt quả tang; số ma túy còn lại, C đã sử dụng 05 túi, còn 10 túi bị thu giữ tại nhà.

Quá trình điều tra xác định khối lượng trung bình của mỗi túi ma túy do C bán là 0,2565g, như vậy tổng khối lượng 10 túi ma túy Cán bán cho Q là 2,565g Methamphetamine.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi tàng trữ để bán là 6,134 gam methaphetamine của bị cáo Lê Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi tàng trữ để sử dụng là 2,565 gam methaphetamine của bị cáo Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Lê Văn C có bố, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, Giấy khen nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Q có xuất trình tài liệu về việc đang điều trị bệnh lao cột sống tại Bệnh viện B, Hà Nội trước khi bị bắt nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn Q đã từng bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo Lê Văn C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Văn Q có nhân thân xấu đã từng bị kết án.

[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập và việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - 01 hộp niêm phong số 667/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định; 01 cân tiểu ly; 01 ví giả da màu nâu đen đã cũ; 01 túi đeo chéo màu đen có in chữ Adidas; các vỏ túi nilon đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật chứng trong vụ án Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh thu giữ của bị cáo Lê Văn C, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q có liên quan đến giao dịch mua bán ma túy nên sẽ tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo C đã thu từ việc bán ma túy sẽ truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị cáo Lê Văn C được xác định không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

  • - Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.

2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp niêm phong số 667/KL- KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H hoàn trả mẫu vật sau giám định; 01 cân tiểu ly; 01 ví giả da màu nâu đen đã cũ; 01 túi đeo chéo màu đen có in chữ Adidas; các vỏ túi nilon đựng ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung màu xanh thu giữ của bị cáo Lê Văn C; 01 điện thoại di động Iphone màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q.
  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Lê Văn C.
  • - Trả lại 01 điện thoại Samsung màu đen thu giữ của bị cáo Lê Văn C.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày //2025 giữa Công an tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

3. Về án phí: Các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Hưng Yên;
  • Phòng HSNV-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đầu tháng 10/2024, Lê Văn C mua ma túy của một người không rõ lai lịch tại khu vực đê phường T, quận L, Hà Nội với giá 1.850.000 đồng, sau đó chia thành 25 túi để sử dụng và bán; ngày 14/10/2024, C bán cho Nguyễn Văn Q 10 túi với giá 3.000.000 đồng, Q trả trước 2.000.000 đồng, còn nợ 1.000.000 đồng; Q đã sử dụng hết 08 túi, còn 02 túi cất trong túi đeo chéo mang theo người đến khi bị bắt quả tang; số ma túy còn lại, C đã sử dụng 05 túi, còn 10 túi bị thu giữ tại nhà.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger