Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH G

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 17-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy và ông Nguyễn Bá Lý.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T; sinh năm 1974, tại tỉnh Quảng Ninh; CCCD số : [...]; nơi cư trú: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Vũ Thị L; vợ là chị Lê Thị H1 và có 02 người con; ; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 20/8/2004, bị Toà án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C), tỉnh Quảng Ninh xét xử, tuyên phạt 02 năm 03 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” (theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999); tại Bản án số 122/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Q; ngày 25/9/2006, chấp hành xong hình phạt. Đã được xoá án tích.

Bị cáo Nguyễn Anh T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1993 và anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1989. Địa chỉ: 256/2/46 T, Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phan Văn H3, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T là người đã bị kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý" và đã được xoá án tích. Ngày 25/9/2006, chấp hành xong hình phạt tại Trại giam Q thì Nguyễn Anh T chuyển đến sinh sống tại Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh G từ tháng 7/2007.

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, T đi bộ trên đường H T, phường T, thành phố P, mục đích tìm nhà ai để sơ hở tài sản thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang nhà bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1973) ở số C đường T, Tổ B, phường T, TP ., T phát hiện thấy xe mô tô biển số 77Y4-3930 của chị Nguyễn Thị C đang dựng ở sân, cửa cổng mở, chìa khoá đang cắm vào ổ khoá điện, nhưng không có người trông coi nên T đột nhập vào nổ máy, điều khiển xe mô tô trên chạy ra đường T. Sau đó, T điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp đến tiệm sửa xe máy “Hoàng Anh I" ở Thôn H, xã I, huyện Đ để bán xe cho Phan Văn H3 (là chủ tiệm cùng là người quen của T). Tại đây, T nói với anh H3 là xe cũ mua lại của người khác nên cần bán; anh H3 hỏi giấy tờ xe thì T mở cốp, lấy giấy đăng ký xe tên Nguyễn Đức H2 đưa cho anh H3. Thấy có giấy tờ đầy đủ nên anh H3 đồng ý mua với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền này, T đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 11/10/2024, chị C phát hiện mất xe mô tô biển số 77Y4-3930 nên đã đến Công an phường T, thành phố P trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an phường T đã tiến hành ghi nhận hiện trường nơi xảy ra vụ việc trên. Qua rà soát các đối tượng trên địa bàn, ngày 13/10/2024, Công an phường T mời Nguyễn Anh T đến làm việc thì T đã đầu thú và khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 77Y4-3930 của chị C vào ngày 11/10/2024. Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Anh T, Công an phường T đã làm việc với Phan Văn H3 và thu giữ xe mô tô nêu trên. Sau đó, Công an phường T chuyển hồ sơ và Nguyễn Anh T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để điều tra theo thẩm quyền; Cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Nguyễn Thị C 01 đoạn Clip được trích xuất từ Camera quan sát của bà Nguyễn Thị D ghi lại diễn biến T đột nhập vào chiếm đoạt xe mô tô biển số 77Y4-3930 vào chiều ngày 11/10/2024; thu giữ của Phan Văn H3 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 039433.

Qua định giá, xác định: Xe mô tô biển số 77Y4-3930 của chị Nguyễn Thị C bị chiếm đoạt ngày 11/10/20204 có trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô biển số 77Y4-3930, qua điều tra xác định: Chủ sở hữu là anh Nguyễn Đức H2 (chồng của chị Nguyễn Thị C). Ngày 11/10/2024, chị C sử dụng xe mô tô trên đến gửi tại nhà bà D để đón con thì bị T chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra xử lý trả lại xe mô tô biển số 77Y4-3930 và giấy đăng ký mô tô, xe máy số 039433 cho anh H2 là có cơ sở.

Đối với đoạn Clip được trích xuất từ Camera quan sát, ghi lại hình ảnh Nguyễn Anh T đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị D ngày 11/10/2024, được lưu vào đĩa DVD, Cơ quan điều tra lưu vào hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Sau khi nhận lại xe mô tô biển số 77Y4-3930, anh Nguyễn Đức H2 không yêu cầu bồi thường gì về dân sự; người liên quan Phan Văn H3 không yêu cầu Nguyễn Anh T hoàn trả lại số tiền anh H3 bỏ ra mua xe mô tô biển số 77Y4-3936.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G truy tố bị cáo Nguyễn Anh T, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
Tịch thu số tiền 1.200.000 đồng là số tiền bị cáo T bán xe mô tô chiếm đoạt cho anh H3 để sung Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị D ở số nhà C đường T, tổ B, phường T, thành phố P, Nguyễn Anh T đã có hành vi lén lút đột nhập vào sân nhà bà D chiếm đoạt xe mô tô biển số 77Y4-3930 trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) của chị Nguyễn Thị C. Sau đó, T đem xe mô tô trên đến tiệm sửa xe máy "Hoàng Anh I" ở Thôn H, xã L, huyện Đ bán cho Phan Văn H3 với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 13/10/2024, Nguyễn Anh T ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 77Y4-3930 trị giá 7.000.000 đồng của người khác, do bị cáo Nguyễn Anh T thực hiện như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm phạm trật tự trị an xã hội, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 20/8/2004, bị Toà án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C), tỉnh Quảng Ninh xét xử, tuyên phạt 02 năm 03 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” (theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999); tại Bản án số 122/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Q; ngày 25/9/2006, chấp hành xong hình phạt. Lần bị kết án này, Nguyễn Anh T đã được xoá án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo có đơn xác nhận hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với anh Phan Văn H3 là người đã mua xe mô tô biển số 77Y4-3930, do bị cáo Nguyễn Anh T chiếm đoạt mà có. Tuy nhiên, khi mua xe mô tô trên thì anh H3 không biết đó là tài sản do bị cáo T chiếm đoạt mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh H3 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có cơ sở.
Đối với số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Anh T bán xe mô tô biển số 77Y4-3930 do chiếm đoạt của chị C mà có cho anh Phan Văn H3, anh H3 không yêu cầu bị cáo T trả số tiền này. Xét đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2024.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/02/2025), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh G;
  • - Sở tư pháp tỉnh G;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G;
  • - Cơ quan Thi hành án tỉnh G;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thành phố P;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố P;P
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ/VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger