Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/LĐ-PT

Ngày: 25 - 3 - 2025

V/v “Tranh chấp tiền lương”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tài.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Bà Nguyễn Thị Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phan Hoàng Anh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 107/2024/TLPT-LĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền lương”.

Do bản án lao động sơ thẩm số 17/2024/LĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 145/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2212/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 3464/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Ông Lê Quang Anh V, sinh năm 1987; Địa chỉ: A C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần Q; Trụ sở: 20 T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Công S, sinh năm 1982 và/hoặc ông Trương Minh T, sinh năm 1999; Địa chỉ liên hệ: A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy quyền số 01/GUQ-CTF ngày 26/02/2025). (có mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Quang Anh V trình bày:

Ngày 04/9/2023, ông và Công ty Cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Công ty Q) đã ký kết Hợp đồng thử việc số 5829-23/HĐTV-CTMJSC và phụ lục 1 đính kèm hợp đồng với nội dung cụ thể như sau: Thời hạn hợp đồng từ ngày 04/9/2023 đến ngày 03/11/2023; Chức vụ: Quyền giám đốc kinh doanh; Mức lương thử việc: 29.750.000 đồng/tháng; L chính thức: 35.000.000 đồng/tháng; L cơ bản: 24.500.000 đồng/tháng; Thưởng hiệu suất: 10.500.000 đồng/tháng; Phụ cấp phí gửi xe: 270.000 đồng/tháng; Thời hạn thanh toán từ ngày 05 đến ngày 15 hàng tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Q không thực hiện trả lương cho ông. Vào ngày 31/10/2023, sau buổi làm việc với Trưởng phòng nhân sự Công ty Q về việc Công ty chậm thanh toán tiền lương thì phía Công ty phản hồi ông không phù hợp với Công ty và yêu cầu ông bàn giao chấm dứt công việc. Ông đồng ý nên kể từ ngày 31/10/2023 ông đã nghỉ việc tại Công ty Q. Kể từ ngày ký hợp đồng lao động đến ngày thôi việc là ngày 31/10/2023 thì Công ty Q chưa thanh toán cho ông bất kỳ khoản lương nào. Tổng số tiền lương Công ty Q còn nợ chưa thanh toán cho ông là 52.584.634 đồng. Ông nhiều lần yêu cầu Công ty Q về việc thanh toán tiền lương nhưng không được giải quyết nên ông đã làm đơn yêu cầu Phòng L1 tổ chức hoà giải tranh chấp lao động. Tại đây đại diện Công ty Q cho biết sẽ thanh toán tiền lương cho ông trong tháng 03/2024 tuy nhiên sau đó Công ty vẫn không thực hiện việc thanh toán. Hành vi cố tình không trả lương của Công ty Q là chiếm đoạt công sức của nguời lao động, là vi phạm và xem thường pháp luật. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Công ty Q thanh toán cho ông toàn bộ các khoản lương đang còn nợ là 52.584.634 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể nguyên đơn yêu cầu Công ty Q phải thanh toán tiền lương theo phiếu thông báo chi tiết thu nhập tiền lương mà Công ty gửi cho nguyên đơn gồm lương tháng 09/2023 là 20.525.319 đồng và tháng 10/2023 là 26.301.250 đồng. Tổng cộng là 46.826.569 đồng. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần Q có ông Phạm Văn H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty Q xác nhận ngày 04/9/2023 Công ty Q có ký hợp đồng thử việc số 5829-23/HĐTV-CTMJSC và Phụ lục 1 đính kèm hợp đồng với ông Lê Quang Anh V. Thời hạn 02 tháng từ ngày 04/9/2023 đến ngày 03/11/2023, vị trí công việc là Giám đốc kinh doanh với mức lương 29.750.000 đồng/tháng, phụ cấp phí gửi xe là 270.000 đồng/tháng. Đến ngày 31/10/2023, ông V đã kết thúc thử việc và đã nghỉ việc luôn.

Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty Q phải trả 02 tháng lương thử việc là 52.584.634 đồng thì ông cần thêm thời gian và xin phép Công ty Q. Tuy nhiên sau đó Công ty không có ý kiến phản hồi về vấn đề này.

Bản án lao động sơ thẩm số 17/2024/LĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 14, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 90, Điều 94, Điều 95 Bộ luật Lao động 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Q1.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang Anh V.

    Buộc Công ty Cổ phần Q phải thanh toán cho ông Lê Quang Anh V tiền lương còn thiếu của tháng 09/2023 và tháng 10/2023 số tiền là 46.826.569 đồng phát sinh từ hợp đồng thử việc số 5829-23/HĐTV-CTMJSC và phụ lục 1 đính kèm ngày 04/9/2023. Thực hiện trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày ông Lê Quang Anh V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, Công ty Cổ phần Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty Cổ phần Q phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 1.404.797 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án cho các bên đương sự.

Ngày 18/9/2024, bị đơn Công ty Cổ phần Q nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

Công ty Cổ phần Q có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Quang A V số tiền 38.800.000 đồng (đây là số tiền còn lại sau khi cấn trừ tiền lương Công ty phải trả cho ông V là 46.826.569 đồng với giá trị máy tính Laptop ông V vẫn đang giữ của Công ty là 8.026.569 đồng). Việc thanh toán số tiền này chậm nhất là ngày 28/3/2025. Các bên đương sự không còn tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng thử việc giữa hai bên. Về án phí sơ thẩm, bị đơn chịu. Các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến tại phiên tòa phúc thẩm:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn nằm trong hạn luật định nên được chấp nhận hợp lệ. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Do các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cũng như án phí lao động sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm, sửa bán án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30/8/2024 do bị đơn vắng mặt nên Cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn, ngày 12/9/2024 Cấp sơ thẩm tống đạt bản án sơ thẩm cho bị đơn, ngày 18/9/2024 bị đơn nộp đơn kháng cáo. Kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
  2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp tranh chấp tiền lương” và xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  3. Về nội dung:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội, đồng thời Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với qui định tại khoản 1 Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  4. Án phí lao động sơ thẩm là 1.164.000 đồng, Công ty Cổ phần Q phải chịu.
  5. Về án phí lao động phúc thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, Công ty Cổ phần Q phải chịu án phí lao động phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

- Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Công ty Cổ phần Q;

- Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 17/2024/LĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 5 Điều 29 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

    Công ty Cổ phần Q có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Quang A V số tiền 38.800.000 (ba mươi tám triệu tám trăm nghìn) đồng (đây là số tiền còn lại sau khi cấn trừ giữa tiền lương Công ty phải trả cho ông V là 46.826.569 (bốn mươi sáu triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi chín) đồng với giá trị máy tính Laptop ông V vẫn đang giữ của Công ty là 8.026.569 (tám triệu không trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi chín) đồng). Việc thanh toán số tiền này chậm nhất là ngày 28/3/2025.

    Các bên đương sự không còn tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng thử việc giữa hai bên.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  2. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty Cổ phần Q phải chịu là 1.164.000 (một triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng.
  3. Về án phí lao động phúc thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng Công ty Cổ phần Q phải chịu. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0059020 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Công ty Cổ phần Q đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân Q. 3;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.3;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/LĐ-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tiền lương

  • Số bản án: 24/2025/LĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền lương
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger