Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/KDTM-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm, bà Phan Hoàng Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2015/TLST-KDTM ngày 24 tháng 11 năm 2015 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2025/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt B2)

    Địa chỉ: T, số B H, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn T – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 (Theo Quyết định số 3828/QĐ-BIDV ngày 01/7/2024)

    Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trọng T1 và bà Chế Thị L1 (Theo Quyết định số 250/QĐ.B2.NBD ngày 19/6/2025).

  2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T7 (gọi tắt là Công ty T7)

    Địa chỉ trụ sở chính: Số C L, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn L2 – Tổng Giám đốc

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Văn L2, sinh năm 1968

      Địa chỉ: Tổ D, khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    2. Bà Hồ Thị Mai T2, sinh năm 1977

      Địa chỉ: Số A, đường T, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Ông Phan Văn L3, sinh năm 1967
    4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967

      Cùng địa chỉ: Tổ C khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

      SĐT: 0907.267.xxx và 0947.39.76.96.

    5. Bà Trần Thị C, sinh năm 1968

      Địa chỉ: Số D Rạch N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

      Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1982

      Địa chỉ thường trú: Tổ A, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp

      Địa chỉ liên hệ: Số B đường T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Số điện thoại: 0988.635.xxx

      (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/4/2025)

    6. Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1949
    7. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949
    8. Ông Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1983
    9. Bà Đặng Thị N, sinh năm 1987

      Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

      Hộ ông Nguyễn Ngọc T4 gồm: Ông Nguyễn Ngọc T4, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Ngọc B1 và bà Đặng Thị N cùng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: C L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/11/2016)

    10. Bà Dương Thị Mai K, sinh năm 1975
    11. Ông Đinh Điền S, sinh năm 1976

      Cùng địa chỉ: Số A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

    12. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1952

      Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    13. Ông Nguyễn Tấn L4, sinh năm 1970

      Địa chỉ: Số D Rạch N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

    14. Ông Phan Thành L5, sinh năm 1982

      Số D Rạch N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

    15. Bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1954

      Địa chỉ: Số D N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T1, bà Chế Thị L1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Thị C và người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thanh T3 có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Chế Thị L1 và ông Nguyễn Trọng T1 trình bày:

Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng (cho vay hạn mức tín dụng ngắn hạn và hạn mức tín dụng dự phòng) số H.M.0103.14/HĐTD ngày 13/11/2014 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh N1 (nay là Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1) với bên vay là Công ty Cổ phần T7 với số tiền 7 tỷ đồng, mục đích bổ sung vốn kinh doanh. Hai bên đã ký các hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bản kê rút vốn, như sau:

  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ vả bảng kê rút vốn (cho vay hạn mức tín dụng) số N.C.0103.14.01/HĐTD; ngày vay 17/11/2014; ngày đến hạn 17/5/2015, số tiền vay 3,338 tỷ, lãi suất trong hạn 11%/năm; lãi suất quá hạn 16,5%/năm;
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ vả bảng kê rút vốn (cho vay hạn mức tín dụng) số N.C.0103.14.02/HĐTD; ngày vay 08/01/2015; ngày đến hạn 08/7/2015, số tiền vay 2 tỷ, lãi suất trong hạn 11%/năm; lãi suất quá hạn 16,5%/năm;
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ vả bảng kê rút vốn (cho vay hạn mức tín dụng) số N.C.0103.14.../HĐTD; ngày vay 06/02/2015; ngày đến hạn 06/8/2015, số tiền vay 750 triệu đồng, lãi suất trong hạn 11%/năm; lãi suất quá hạn 16,5%/năm;
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ vả bảng kê rút vốn (cho vay hạn mức tín dụng) số N.C.0103.14.15/HĐTD; ngày vay 11/02/2015; ngày đến hạn 11/8/2015, số tiền vay 800 triệu đồng, lãi suất trong hạn 11%/năm; lãi suất quá hạn 16,5%/năm;

Để đảm bảo các khoản vay nêu trên, Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh N1, Công ty T7 và bên thứ ba ký các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) như sau:

  • Hợp đồng số 0116.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2014 giữa bên thế chấp bà Trần Thị C với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P – chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0005.15/HĐTC.3 giữa bên thế chấp bà Trần Thị C với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P - chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0002.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Ngọc T4 và bà Nguyễn Thị B với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P – chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0003.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Ngọc T4, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Ngọc B1, bà Đặng Thị N với bên nhận thế Ngân hàng TMCP P - chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0033.15/HĐTC.3 được chứng thực ngày 05/02/2015 giữa bên thế chấp ông Phan Văn L3 và bà Nguyễn Thị H với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P– chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0034.15/HĐTC.3 ngày 10/02/2015 giữa bên thế chấp ông Trần Văn L2 và bà Hồ Thị Mai T2 với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P - chi nhánh N1.
  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0117.14/HĐTC.3 ngày 13/11/2014 giữa bên thế chấp bà Dương Thị Mai K, ông Đinh Điền S với bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP P – chi nhánh N1.

Quá trình thực hiện hợp đồng, do Công ty T7 không thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T7 trả tiền vốn và lãi tính đến ngày 09/11/2015 là 7.592.407.191 đồng (trong đó: nợ gốc là 6.887.999.132, nợ lãi là 704.408.059 đồng) và tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết trên cho đến khi thanh toán hết dư nợ hoặc thi hành án xong; yêu cầu tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp tài sản sau để đảm bảo cho việc thi hành án; trường hợp Công ty T7 không trả hoặc trả nợ không đủ thì BIDV được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tất cả các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền phát mãi tài sản thế chấp vẫn không đủ thanh toán cho B2 thì Công ty T7 vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ còn lại cho B2.

Quá trình giải quyết vụ án, do ông Trần Văn L2 và bà Hồ Thị Mai T2; ông Dinh Điền S1 và bà Nguyễn Thị Mai K1 đã tự nguyện bán tài sản thế chấp để thực hiện một phần nghĩa vụ trả nợ cho B2 với số tiền 1.371.648.358 đồng nên B2 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền trên.

Tại phiên tòa, đại diện của B2 yêu cầu Công ty T7 thanh toán nợ gốc, lãi tính đến ngày 20/6/20251 à: 14.535.691.988 đồng, trong đó: nợ gốc là 5.516.350.774; lãi trong hạn: 6.399.311.739 đồng; lãi quá hạn: 2.620.029.476 đồng; và tiền lãi suất phát sinh cho đến khi Công ty T7 thanh toán hết dư nợ vay hoặc khi thi hành án xong.

Trường hợp Công ty T7 không thực hiện trả nợ thì B2 có quyền yêu cầu bán phát mại tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0116.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2014; số 0005.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; số 0002.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; số 0003.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; số 0033.15/HĐTC.3 ngày 05/02/2015 để thu hồi nợ; rút lại yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0034.15/HDDTC.13 ngày 10/02/2015 và 0117.14/HDDTC.3 ngày 13/11/2014 vì đã xử lý xong.

Tại Bản tự khai bổ sung ngày 08/9/2016 bị đơn là Công ty Cổ phần T7 do ông Trần Văn L2 là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Ông xác định có ký tên vào các Biên bản họp cổ đông Công ty T7 và Quyết định số 09.QĐ-TPS ngày 29/10/2014 để ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H – Phó Tổng Giám đốc tài chính của Công ty được quyền thay mặt ông ký các hợp đồng tín dụng, thế chấp vay vốn, bảo lãnh tài sản của bên thứ 3 vay vốn Ngân hàng và ký các hợp đồng kinh tế...

Ông thừa nhận có biết việc Công ty Cổ phần T7 ký Hợp đồng tín dụng số H.M.0103.14/HĐTD ngày 13/11/2014 và các Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bản kê rút vốn để vay của Ngân hàng Đ – Chi nhánh N1 để vay số tiền 6.888.000.000 đồng; mục đích để bổ sung vốn kinh doanh.

Quá trình thực hiện hợp đồng, do làm ăn thua lỗ nên không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận.

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của B2 thì Công ty T7 đồng ý chịu trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ gốc là 6.887.999.132 đồng và lãi đến ngày 09/11/2015 là 704.408.059 đồng; đồng ý tiếp tục chịu lãi phát sinh sau ngày 09/11/2015 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Văn L2 trình bày: Ông và vợ là Hồ Thị Mai T2 có ký Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất (dành cho bên thứ 3) số 0034.15/HĐTC ngày 10/02/2015 với Ngân hàng để thế chấp tài sản là QSDĐ và nhà ở theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 8786629888 do UBND thành phố C cấp ngày 17/3/2009 tên Trần Văn Lê . Ông đồng ý tiếp tục duy trì việc thế chấp tài sản trên theo quy định để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • Bà Hồ Thị Mai T2 trình bày: Thống nhất với Biên bản thỏa thuận về việc bàn giao tài sản bảo đảm ngày 15/10/2015 cho Ngân hàng bán tài sản để xử lý nợ.
  • Bà Trần Thị C và người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thanh T3 thống nhất trình bày:

    Do biết ông L3 có quen biết với nhiều Ngân hàng nên bà C có nhờ ông L3 giới thiệu cho bà C vay tiền nhưng vì hạn mức duyệt của Ngân hàng cho bà C không đủ nhu cầu nên ông L3 đề nghị bà Chính ủy Q và giao tài sản cho Công ty T7 đứng vay. Theo đó, bà C đã giao 03 tài sản thuộc sở hữu của bà cho Công ty T7 nhờ vay hộ số tiền 3 tỷ đồng.

    Bà C thừa nhận có ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0116.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2014, bảo lãnh cho khoản vay của Công ty T7 với số tiền 2.890.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 861,8m², thửa số 651; tờ bản đồ số 30; loại đất ở đô thị theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 113570, số vào sổ cấp GCN số CH04066 do UBND thành phố S, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 29/7/2014 và Hợp đồng thế chấp QSDĐ (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0005.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 bảo lãnh cho khoản vay của Công ty T7 với số tiền 500.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 405,2m²; trong đó đất ở đô thị là 219,8m2, đất trồng cây lâu năm 185,4m²; thửa số 616, tờ bản đồ số 30 theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 359885, số vào sổ cấp GCN số CH02567 do UBND thị xã S, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 03/10/2012.

    Tuy nhiên, sau khi Công ty T7 được giải ngân thì bà C không nhận được khoản tiền như thỏa thuận với ông L3. Bà không ký vào Biên bản họp hội đổng quản trị ngày 02/02/2015, Kết luận giám định số 478/KLGT-PC54 ngày 16/11/2017 của Phòng K2 - Công an tỉnh A xác định chữ ký Trần Thị C không phải của bà. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Các đương sự còn lại dù đã triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm. Về thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ; buộc Công ty Cổ phần T7 có nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi 14.535.691.988 đồng; tiếp tục tính lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký đến khi thanh toán xong nợ; trường hợp Công ty T7 không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0033.15/HĐTC.3 ngày 05/02/2015 đối với số tiền 750.000.000 đồng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0002.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 đối với số tiền đối với số tiền 52.000.000 đồng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0003.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 đối với số tiền 1.456.000.000 đồng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0005.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015 đối với số tiền 500.000.000 đồng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số 0116.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2014 đối với số tiền 2.890.000.000 đồng và dành quyền ưu tiên mua cho bà Trần Thị C, ông Phan Thành L5, bà Trần Thị Kim H1 là những người đang sinh sống tại nhà trên đất khi có nhu cầu (nhận chuyển nhượng).

Đình chỉ đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc 1.371.648.358 đồng và xử lý tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số 0034.15/HDDTC.13 ngày 10/02/2015 và 0117.14/HDDTC.3 ngày 13/11/2014.

Về án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền:

    Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số H.M.0103.14/HĐTD ngày 13/11/2014 được ký Ngân hàng TMCP Đi nhánh N1 (nay là Ngân hàng Đ – Chi nhánh N1) với Công ty Cổ phần T7; Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh. Do vậy, xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Công ty Cổ phần T7 có địa chỉ trụ sở chính tại thành phố L nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

  2. Về tố tụng:

    Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn tham gia các phiên làm việc tại Tòa án theo đúng quy định. Bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến hay có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của các bên tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

  3. Về nội dung:
    1. Xét Hợp đồng tín dụng số H.M.0103.14/HĐTD ngày 13/11/2014 và các Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ vả bảng kê rút vốn (cho vay hạn mức tín dụng) ký giữa Ngân hàng TMCP P (nay là Ngân hàng TMCP Đ – C1) với Công ty Cổ phần T7 được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng tín dụng các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụngvà Bộ luật dân sự năm 2015.

      Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do Công ty T7 đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo thỏa thuận; việc vay và chậm trả nợ đã được ông Trần Văn L2 là người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 thừa nhận. Do đó, B2 khởi kiện yêu cầu Công ty T7 trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 14.535.691.988 đồng, trong đó: nợ gốc là 5.516.350.774; lãi trong hạn: 6.399.311.739 đồng; lãi quá hạn: 2.620.029.476 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2025) Công ty T7 vi phạm nghĩa vụ thanh toán phải có nghĩa vụ trả tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với B2 là phù hợp quy định pháp luật.

    2. Để đảm bảo khoản vay, B2, Công ty T7 và bên thứ ba đã ký các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế) số 0016.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2024; 0005.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; 0033.15/HĐTC.3 ngày 05/2/2015; 0003.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; 0002.15.HĐTC.3 ngày 07/01/2015; 0034.15/H ĐTC.3 ngày 10/02/2015 và 0117.14/HĐTC.3 ngày 13/11/2014. Các hợp đồng này đều được công chứng và đăng ký thế chấp theo quy định. Xét nội dung và hình thức của các hợp đồng thế chấp trên phù hợp quy định tại Điều 317, 318, 320, 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án.
    3. Về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ: Căn cứ các hợp đồng thế chấp thì bên thế chấp tự nguyện dùng tài sản của mình để đảm bảo cho một phần nghĩa vụ, không vượt quá số tiền được nêu cụ thể trong hợp đồng (chưa kể lãi, phí và các khoản phải trả khác) của Công ty T7 với B2 theo Hợp đồng tín dụng số H.M.0103.14/HĐTD. Và tại mục 1.6 của Điều 1 có nêu: “...bên thế chấp cam kết chịu trách nhiệm thanh toán đầy đủ khoản nợ trên cùng với lãi/phí liên quan và chấp thuận việc Ngân hàng xử lý tài sản để thu hồi nợ nêu Công ty Cổ phần T7 vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết”. Do Công ty T7, bên thế chấp không trả nợ gốc, lãi nên B2 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ gốc và lãi phát sinh là có căn cứ chấp nhận. Cụ thể:
      • Tài sản thế chấp của bà Trần Thị C đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 tính đến ngày 20/6/2025 gồm: Nợ gốc: 3.310.982.494 đồng và lãi là 5.413.521.020 đồng;
      • Tài sản thế chấp của ông Phan Văn L3, bà Nguyễn Thị H đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 tính đến ngày 20/6/2025 gồm: Nợ gốc: 732.518.250,80 đồng, lãi là 1.197.681.642 đồng;
      • Ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Ngọc B1, bà Đặng Thị N đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 tính đến ngày 20/6/2025 gồm: Nợ gốc: 1.472.850.030 đồng, lãi là 2.408.138.554 đồng;

      Đối với bên thứ ba thế chấp là ông S1, bà K1 và ông L2, bà T2 đã tự nguyện xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba) số 0034.15/HĐTC.3 ngày 10/02/2015 và 0117.14/H ĐTC.3 ngày 13/11/2014 để thanh toán số tiền 1.371.648.358 đồng nên Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện đối với một phần nợ gốc và các tài sản thế chấp theo hai hợp đồng thế chấp trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Theo biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2024 của Tòa án đối với các thửa đất số 616, 651, tờ bản đồ số 30 có căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu là nơi sinh sống của bà Trần Thị C, ông Phan Thành L5, bà Trần Thị Kim H1 cho nên bà C, ông L5, bà H1 được dành quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng) khi xử lý tài sản thế chấp.

    4. Đối với việc bà C cho rằng bà không nhận được tiền vay theo thỏa thuận với ông L3 nhưng bà thừa nhận có ký vào các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng để đảm bảo một phần nghĩa vụ của Công ty T7 nên phải có trách nhiệm giao tài sản thế chấp để xử lý nợ trong trường hợp Công ty T7 không thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng; nếu có tranh chấp về việc giao nhận tiền với ông L3 thì bà có quyền khởi kiện ông L3 theo quy định.
    5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Công ty T7 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.700.000 đồng, chi phí đo đạc 6.293.900 đồng; ghi nhận Ngân hàng đã nộp xong nên Công ty T7 có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng. Đối với chi phí giám định 1.530.000 đồng, do yêu cầu bà C không được chấp nhận nên bà C phải chịu chi phí này, ghi nhận bà C đã nộp xong.
    6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Điều 317, 318, 320, 323, 463, 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • Điều 7, 8, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Án lệ số 11/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B2).

Buộc Công ty Cổ phần T7 trả cho B2 số tiền 14.535.691.988 đồng, trong đó: nợ gốc là 5.516.350.774; lãi trong hạn: 6.399.311.739 đồng; lãi quá hạn: 2.620.029.476 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty Cổ phần T7 phải tiếp tục thanh toán cho B2 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba thế chấp) số số 0016.14/HĐTC.3 ngày 14/11/2024; 0005.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; 0033.15/HĐTC.3 ngày 05/2/2015; 0003.15/HĐTC.3 ngày 07/01/2015; 0002.15.HĐTC.3 ngày 07/01/2015 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp Công ty Cổ phần T7 không trả nợ thì B2 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba để thu hồi nợ theo các hợp đồng thế chấp QSDĐ (dùng cho bên thứ ba thế chấp), như sau:

  • Tài sản thế chấp của bà Trần Thị C đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 gồm: Nợ gốc: 3.310.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 5.414.000.000 đồng; tổng cộng: 8.724.000.000 đồng.
  • Tài sản thế chấp của ông Phan Văn L3, bà Nguyễn Thị H đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 gồm: Nợ gốc: 732.518.000 đồng, lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 1.198.000.000 đồng; tổng cộng 1.930.518.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Ngọc B1, bà Đặng Thị N đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty T7 gồm: Nợ gốc: 1.472.850.000 đồng, lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 2.409.000.000 đồng; tổng cộng 3.881.850.000 đồng.

Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì Công ty Cổ phần T7 còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.

Đình chỉ yêu cầu trả nợ gốc số tiền 1.371.648.358 đồng và yêu cầu duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (dùng cho bên thứ ba) số 0034.15/HĐTC.3 ngày 10/02/2015 và 0117.14/HĐTC.3 ngày 13/11/2014.

  • Về chi phí tố tụng: Công ty Cổ phần T7 phải chịu 9.993.900 đồng, BIVD đã nộp xong nên Công ty Cổ phần T7 có nghĩa vụ hoàn lại cho B2 số tiền này. Bà Trần Thị C phải chịu 1.530.000 đồng, ghi nhận bà C đã nộp xong.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần T7 phải chịu 122.535.692 đồng. B2 được hoàn lại 57.796.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007512 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND tỉnh An Giang;
  • VKSND TP.Long Xuyên;
  • THADS TP.Long Xuyên;
  • Các đương sự;
  • Lưu văn phòng;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quang Chân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/KDTM-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger