|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/KDTM-PT
Ngày: 26/6/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương
Các thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Nhung
Bà Phạm Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Phúc, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Ngọc Lan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 19 và 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 02/2024/TLPT-KDTM ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2025/QĐ-PT ngày 11/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 28/2025/QĐ-PT ngày 06/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ, địa chỉ: A, tổ G, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Đức T, chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992.(Có mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH S2, địa chỉ: Lô I, KCN H, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông LEE IK MO, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Tố H, sinh năm 1975 và ông Trần Xuân S, sinh năm 1996. (Có mặt)
Bên kháng cáo: Công ty TNHH S2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn-bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Theo nhu cầu hoạt động sản xuất và kinh doanh, ngày 01/06/2024, Công ty TNHH S2 (gọi tắt là Công ty S3) và Công ty TNHH Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có thoả thuận ký kết các hợp đồng vận tải là:
- Hợp đồng vận tải số TO-SJVN 01062024 ký ngày 01/06/2024;
- Hợp đồng vận tải số TO-MN 01062024 ký ngày 01/06/2024 và Phụ lục hợp đồng số TO-MN 01062024 ký ngày 01/06/2024 đính kèm;
- Hợp đồng vận tải số TO-BRE 01062024 ký ngày 01/06/2024;
- Hợp đồng vận tải số TO-HAT 01062024 ký ngày 01/06/2024 và Phụ lục hợp đồng số TO-HAT 01062024 ký ngày 01/06/2024 đính kèm.
Theo các hợp đồng đã xác lập, Công ty Đ có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ vận chuyển cho Công ty S3 và Công ty S3 có nghĩa vụ thanh toán chi phí dịch vụ cho Công ty Đ, hợp đồng cung cấp dịch vụ vận chuyển. Các hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/06/2024 đến ngày 31/05/2025.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động,nhân viên Công ty S3 là bà Trần Thị Kiều A có thông báo đến Công ty Đ bằng tin nhắn văn bản trên nền tảng Zalo với nội dung yêu cầu Công ty Đ kể từ ngày 14/06/2024 sẽ tạm ngưng vận chuyển hàng hoá, chấm dứt hợp đồng và làm giấy thanh lý hợp đồng vận chuyển.
Khi nhận được thông tin tạm ngưng hoạt động nêu trên, ngày 17/06/2024 Công ty Đ có gửi “Đơn khiếu nại (lần 01)” đến Công ty S3, yêu cầu Công ty S3 có văn bản giải thích, thông báo chính thức việc yêu cầu tạm ngưng cung cấp dịch vụ vận chuyển. Theo nội dung đơn khiếu nại được gửi đi, Công ty Đ có trình bày quan điểm đối với tin nhắn thông báo yêu cầu tạm ngưng cung cấp dịch vụ nêu trên là hành vi tự ý, đơn phương chấm dứt hợp đồng vận chuyển, thêm đó việc yêu cầu dừng hợp đồng vận chuyển từ Công ty S3 không kèm văn bản thông báo hay thoả thuận giữa các bên theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Hợp đồng vận tải, đã khiến Công ty Đ bị thiệt hại nghiêm trọng.
Sau đó, Công ty S2 lại có văn bản đề nghị Công ty Đ đấu thầu lại, cụ thể ngày 19/06/2024 Công ty S3 gửi đến Công ty Đ 01 văn bản thông báo về việc tiến hành tổ chức đấu thầu bổ sung cho năm 2024.
Đến ngày 24/06/2024, Công ty S3 gửi thông báo hồi đáp “Đơn khiếu nại lần 01” của Công ty Đ với nội dung như sau: “1.Điều đầu tiên mà công ty chúng tôi muốn làm rõ, là công ty chúng tôi không và chưa bao giờ yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng với Toàn T2”. Nhưng Công ty S2 lại yêu cầu công ty Đ phải đấu thầu lại, nếu không tham gia thì sẽ chấm dứt hợp đồng đã ký kết. Nhận thấy, nội dung trả lời này của Công ty S3 là thiếu đồng nhất, có sự mâu
thuẫn và hoàn toàn trái ngược với thông báo được đại diện Công ty Sunjin bà Kiều A đưa ra khi trao đổi, làm việc với Công ty Đ (như đã trình bày).
Ngày 05/07/2024, Công ty S3 có gửi đến Công ty Đ các văn bản “Thông báo chấm dứt hợp đồng”, cụ thể:
- Thông báo chấm dứt hợp đồng vận tải số TO-SJVN 01062024;
- Thông báo chấm dứt hợp đồng vận tải số số TO-MN 01062024;
- Thông báo chấm dứt hợp đồng vận tải số số TO-BRE 01062024;
- Thông báo chấm dứt hợp đồng vận tải số số TO-HAT 01062024;
Với nội dung: “Sunjin gửi thông báo này để thông báo chấm dứt hợp đồng với Toàn Thắng từ ngày 06/08/2024.”.
Trong vụ việc này, Hợp đồng phát sinh tranh chấp giữa các bên được xác lập một cách hợp pháp. Công ty S3 không có tài liệu nào chứng minh cho việc Công ty S3 có một văn bản thể hiện rõ ràng rằngCông ty Sunjin đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng thoả thuận giữa các bên và có lý do chấm dứt hợp đồng hợp lý. Do đó, đã gây thiệt hại lớn cho Công ty Đ vì phải thuê phương tiện vận tải, nhân lực phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng đã ký kết giữa hai bên đồng thời còn làm thiệt hại về kế hoạch kinh doanh và chiến lược phát triển Công ty Đ.
Do đó, bên Công ty S3 có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty Đ theo thoả thuận tại Điều 6 của các “Hợp đồng vận tải”
Nay Công ty TNHH Đ khởi kiện Công ty S2, kính đề nghị buộc Công ty S2 bồi thường toàn bộ thiệt hại là các khoản chi phí do Công ty Đ đã chi trả vào các tháng 6 và 7 năm 2024. Cụ thể:
- Chi phí thuê xe tải hàng tháng 229.000.000 đồng;
- Chi phí thuê tài xế - bốc xếp hàng tháng 373.100.000 đồng;
- Chi phí lợi nhuận tổn thất hàng tháng (thời gian tính 26 ngày), số tiền là 2.000.000 đồng/ngày/xe, tổng số xe 07 xe. Tạm tính 2.000.000 * 26 * 7= 364.000.000 đồng.
Tổng thiệt hại của Công ty Đ là (229.000.000 đồng + 373.100.000 đồng + 364.000.000 đồng) x 2 tháng = 1.932.200.000 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng).
* Trong bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, đại diện theo ủy quyền của bị đơn - bà Nguyễn Thị Tổ H1 trình bày:
Ngày 01/06/2024, Công ty S3 (thông qua các chi nhánh của mình) đã ký kết các hợp đồng vận tải với Công ty Đ dưới dạng các hợp đồng nguyên tắc để vận chuyển hàng hóa là thức ăn chăn nuôi. Theo đó, khi có nhu cầu Công ty S3 sẽ gửi đơn đặt hàng và Công ty Đ sẽ xác nhận đồng ý hoặc không đồng ý chở hàng.
Những nội dung này được quy định rõ tại khoản 3 Điều 2 và khoản 1 Điều 3 của hợp đồng vận tải như sau:
“Bên A sẽ thông báo cho bên B theo từng đợt vận chuyển nhưng trước ít nhất 1 ngày kể từ ngày nhận hàng. Trường hợp có nhu cầu vận chuyển gấp, Bên A sẽ thông báo cho Bên B biết số lượng cần vận chuyển, sau từ 3 (ba) đến 4 (bốn) giờ (kể từ lúc bên A thông báo) bên B phải xác nhận cho bên A kết quả có hoặc không có thể cung cấp xe. Việc xác nhận này sẽ được hai bên thông báo trực tiếp bằng điện thoại, fax hoặc email”.
“Khi có nhu cầu vận chuyển hàng hóa thì bên A sẽ thông báo bằng điện thoại cho bên B”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty Đ đã có hành vi vi phạm dẫn đến việc công ty S3 buộc phải tạm dừng việc đặt hàng của công ty Đ. Cụ thể:
Ngày 11/06/2024, Công ty Đ đã sử dụng 01 xe tải mang biển số 60H 07135 (không được đăng ký từ trước với S1) để vận chuyển hàng hóa, đồng thời S1 biết được rằng xe được đăng ký với Công ty S3 đã được sử dụng để vận chuyển hàng hóa tại một địa điểm khác cho một công ty khác. Hành vi này của Toàn T2 đã vi phạm quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng vận chuyển.
“c. Bên B phải cung cấp phương tiện vận tải đáp ứng yêu cầu của Bên A: phương tiện vận tải phải sạch sẽ, đảm bảo an toàn cho hàng hóa, không ẩm ướt, không hóa chất độc hại, không côn trùng, che chắn hàng hóa khi vận chuyển, và đúng thời điểm thỏa thuận. Các xe vận chuyển phải được đăng kí trước. Các xe vận chuyển lần đầu phải được sát trùng và phơi xe trước 2 ngày. Chịu chi phí bốc dỡ hàng xuống nơi Bên A yêu cầu giao.”
Công ty Sunjin là Công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi cung cấp hàng hóa đến các trang trại chăn nuôi, trước diễn biến phức tạp của các loại dịch bệnh, Sunjin cần tất cả các vấn đề về an toàn sinh học phải được đảm bảo đến mức tối đa. Việc sử dụng xe không được đăng ký trước của Toàn T2 tiềm ẩn một rủi ro lây lan dịch bệnh rất lớn, điều này có thể dẫn đến thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng cho Công ty S3 cũng như những người nông dân chăn nuôi. Do đó Công ty S3 phải tạm dừng việc sử dụng dịch vụ vận chuyển của Toàn T2 để đánh giá lại năng lực vận chuyển cũng như chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp.
Ngày 17/06/2024, công ty S3 có mời công ty Đ để thỏa thuận tháo gỡ vướng mắc, nhưng không đạt được thỏa thuận.
Ngày 01/07/2024, công ty S3 tiếp tục mời công ty Đ lên làm việc để tháo gỡ vướng mắc, tuy nhiên tại buổi làm việc đại diện của công ty Đ không có tinh thần hợp tác, liên tục to tiếng với công ty S3. Cuối cùng hai bên không đạt được một thỏa thuận nào.
Để tìm ra một giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên, cũng như tạo điều kiện cho công ty Đ giải trình năng lực của mình, S1 đã đề xuất Toàn Thắng đấu thầu bổ sung để xem xét kỹ lưỡng các vấn đề trên nhưng công ty Đ đã không đồng ý.
Ngày 05/07/2024, công ty S3 đã gửi thông báo chấm dứt hợp đồng từ ngày 06/08/2024 theo nội dung đã thỏa thuận tại khoản 2 Điều 8 của các hợp đồng vận tải. Trong thời gian còn lại, hai bên vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã thỏa thuận.
Từ ngày 06/7/2024 đến ngày 11/7/2024 công ty S3 vẫn tiếp tục đặt hàng dịch vụ vận tải với công ty Đ nhưng công ty Đ đã không đồng ý cung cấp dịch vụ.
Công ty S3 hoàn toàn phản đối việc công ty Đ cho rằng công ty S3 đã vi phạm hợp đồng do việc tạm dừng đặt phương tiện của công ty Đ bởi 02 căn cứ sau:
Một là, nguyên nhân dẫn đến việc S1 tạm dừng đặt phương tiện xuất phát trực tiếp từ sự kiện công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ đăng ký xe vận chuyển cho công ty Sunjin như đã chỉ ra ở trên. Sự kiện này buộc công ty S3 phải tạm dừng đặt phương tiện vận chuyển để xem xét hành vi vi phạm và năng lực cung cấp dịch vụ của Toàn T2. Sau khi xem xét kỹ lưỡng các vấn đề công ty S3 đã quyết định chấm dứt hợp đồng với Toàn Thắng theo đúng thỏa thuận đã được quy định tại khoản 2 Điều 8 Hợp đồng vận chuyển. Theo đó, nếu một bên muốn chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn thì chỉ cần thông báo cho bên kia trước 30 ngày. Trong thời gian kể từ ngày thông báo chấm dứt hợp đồng đến ngày Hợp đồng bị chấm dứt sau 30 ngày, công ty S3 vẫn sử dụng dịch vụ của công ty Đ, nhưng công ty Đ đã không đồng ý cung cấp dịch vụ.
Hai là, việc tạm dừng đặt phương tiện của công ty Sunjin hoàn toàn phù hợp với nội dung hợp đồng. Bởi lẽ, các hợp đồng mà công ty S3 đã ký kết với công ty Đ đều là các Hợp đồng nguyên tắc, nội dung của Hợp đồng không có nội dung quy định Sunjin phải bắt buộc dịch vụ vận tải từ T. Thay vào đó, S1 sẽ chỉ sử dụng dịch vụ vận tải của công ty Đ khi có nhu cầu và sẽ thực hiện theo từng đơn đặt hàng được thông báo tối thiểu trước 3 tiếng, nếu công ty Đ có đủ điều kiện vận chuyển thì sẽ ra thông báo chấp nhận, ngược lại Toàn Thắng cũng hoàn toàn có quyền từ chối cung cấp dịch vụ đối với đơn đặt phương tiện của S1 nếu không đủ điều kiện cung cấp.
Việc công ty S3 không có nhu cầu nên không sử dụng dịch vụ của Toàn T2 là hoàn toàn phù hợp với nội dung hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận.
Đối với các yêu cầu bồi thường thiệt hại của công ty Đ thì công ty S3 không đồng ý với bất kỳ yêu cầu bồi thường thiệt hại nào của công ty Đ, bởi lẽ các khoản chi phí được công ty Đ nêu ra đều thuộc trách nhiệm chi trả của công ty Đ, các chi phí thiệt hại này hoàn toàn không xuất phát từ lỗi của công ty S3 nên công ty S3 không chịu trách nhiệm với bất kỳ thiệt hại nào (nếu có) của công ty Đ. Nay, việc công ty Đ khởi kiện công ty S3, cho rằng công ty S3 vi phạm hợp đồng là hoàn toàn không phù hợp với bản chất giao dịch, nội dung các thỏa thuận đã ký kết và kết quả diễn biến thực tế thực hiện hợp đồng.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 302, 303, 304, 306 Luật Thương mại 2005 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH Đ với bị đơn - Công ty TNHH S2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa”.
Buộc Công ty TNHH S2 bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH Đ số tiền 1.932.200.000 đồng (một tỷ chín trăm ba mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 25/11/2024 Công ty TNHH S4 đơn kháng cáo đề nghị hủy hoặc sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 14/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Đ và buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo của Công ty TNHH S2 trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận.
Về đề xuất giải quyết vụ án:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa Bản án sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH Đ với bị đơn Công ty TNHH S2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa” v/v Buộc Công ty TNHH S2 bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH Đ số tiền 1.932.200.000 đồng (một tỷ chín trăm ba mươi hai triệu hai trăm ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
[1] Về tố tụng: Công ty TNHH S2 kháng cáo trong hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.1] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của đương sự đúng quy định.
[2] Về nội dung:
Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy:
Tại khoản 3 Điều 2 Hợp đồng thỏa thuận: Trường hợp có nhu cầu vận chuyển gấp, bên A sẽ thông báo cho bên B biết số lượng cần vận chuyển, sau từ 3 đến 4 giờ (kể từ lúc bên A thông báo) bên B phải xác nhận cho bên A kết quả có hoặc không có thể cung cấp xe. Như vậy, giữa hai bên không có bất kỳ cam kết nào về việc công ty S3 sẽ thuê công ty Đ tối thiểu bao nhiêu đơn hàng một tháng, mà chỉ khi có nhu cầu thì công ty S3 mới đặt hàng.
Công ty Đ cho rằng do bên A gọi gấp trước 4 giờ nên không kịp đăng ký xe, buộc phải điều xe mới để kịp tiến độ. Việc bên A yêu cầu “vận chuyển gấp”, nếu Bên B không đủ điều kiện vận chuyển đúng quy trình, bên B có thể thông báo không kịp sắp xếp xe và phản hồi từ chối hoặc đề xuất phương án thay thế.
Hợp đồng đã ký kết giữa hai công ty là hợp đồng nguyên tắc. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Hợp đồng có quy định: Bên B vận chuyển chỉ sử dụng xe đã đăng kí trước. Các xe vận chuyển lần đầu phải được sát trùng và phơi xe trước 2 ngày. Tuy nhiên, công ty Đ đã sử dụng 01 xe vận chuyển không đăng ký từ trước với S1 để vận chuyển hàng hóa là đã vi phạm quy định trên.
Theo nội dung hợp đồng S1 và Toàn T2 đã thống nhất trước danh sách xe, và mọi phương tiện vận chuyển đều phải được đăng ký, kiểm tra và chấp thuận. Không có tài liệu nào thể hiện S1 đã yêu cầu hoặc đồng ý Toàn T2 sử dụng xe không đăng ký trước.
Lý do mà Toàn T2 viện dẫn cho việc sử dụng xe không đăng ký (“do yêu cầu gấp của S1”) là hoàn toàn không có cơ sở. Việc tự ý sử dụng xe ngoài danh sách đã được thống nhất là vi phạm hợp đồng. Việc sử dụng xe không đăng ký trước đều tiềm ẩn rủi ro lớn về thiệt hại xảy ra (lan truyền dịch bệnh...).
Đối với xe tải 60C- 00121 không vào nhà máy để nhận cám giao hàng nhưng lại chở cám cho công ty A1, Toàn T2 không trung thực thông tin sự thật về tình trạng phương tiện khi nói lý do “xe bị tai nạn” đang sửa chữa, trong khi thực tế đang vận chuyển cho đơn vị khác, điều này làm mất lòng tin của S1 về sự chuyên nghiệp trong dịch vụ vận chuyển của Toàn T2.
Tại điều 1 khoản 1 hợp đồng: Chỉ ghi rằng “Bên A đồng ý giao và Bên B đồng ý nhận vận chuyển hàng hóa...”; Điều 2, khoản 3: “Bên A sẽ thông báo theo từng đợt vận chuyển”. Điều 5.1 (nghĩa vụ Bên A): Cũng chỉ ghi rằng “Bên A sẽ thông báo số lượng hàng hóa cụ thể trước mỗi chuyến”.
Không có điều khoản nào trong hợp đồng ràng buộc Bên A phải cam kết số lượng tối thiểu chuyến vận chuyển. Không có ràng buộc cụ thể nào về số lượng, sản lượng tối thiểu hay tần suất vận chuyển. Mọi đợt vận chuyển đều dựa trên sự chủ động thông báo từng đợt của bên A. Mọi tính cước cũng dựa trên phiếu xác nhận khối lượng từng chuyến.
Do hợp đồng thỏa thuận việc vận chuyển theo nhu cầu của bên A và không cam kết số lượng vận chuyển cố định theo tháng, nên Toàn T2 không có cơ sở cho rằng S1 vi phạm hợp đồng khi sau ngày 13/6/2024 ngưng đặt hàng.
Vào chiều ngày 13/06/2024, nhân viên Công ty S3 là bà Trần Thị Kiều A thông báo cho Công ty Đ qua phần mềm Zalo “em B tạm ngừng chở cám, hợp đồng sẽ thanh lý, hoàn cọc cho mình” và hẹn Toàn T2 đến văn phòng Sunjin để làm việc ngày 17/6/2024. Ngày 22/6/2024, Toàn T2 gửi đơn khiếu nại không đồng ý về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại. Ngày 24/6/2024, S1 có văn bản trả lời: (1)Sunjin V nói không và chưa bao giờ yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng với Toàn T2; (2)Sunjin Vina báo T3 đã có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng, cụ thể là ngày 11/6/2024 vận chuyển bằng xe không đăng ký trước, xe tải 60C 00121 không vào nhà máy để nhận cám giao hàng nhưng lại chở cám cho công ty A1; (3) Sunjin Vina đề xuất tổ chức đấu thầu lại.
Công ty Đ xác định thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng, việc vận chuyển bằng vi phạm này theo quy định tại điểm k mục 2 Điều 5 của các hợp đồng vận chuyển thì chỉ bị phạt tiền 10.000.000 đồng.
Ngày 05/07/2024, S1 thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng và thời gian chấm dứt là ngày 06/08/2024. Sau đó, S1 có đặt 2 đơn hàng ngày 06/7/2024
và ngày 11/7/2024 nhưng Toàn T2 không đồng ý vận chuyển.
Như vậy, kể từ khi nhận được thông tin bà Trần Thị Kiều A thông báo cho công ty Đ về việc tạm ngưng thực hiện hợp đồng và sẽ thanh lý hợp đồng thì Toàn T2 khiếu nại và hai bên không đi tới thỏa thuận thống nhất được, cho đến khi S1 ra văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng ngày 05/7/2024. Việc tòa án sơ thẩm nhận định Sunjin đơn phương chấm dứt hợp đồng kể từ ngày bà Trần Thị Kiều A thông báo là không chính xác, vì bà Kiều A là người trực tiếp gửi đơn đặt hàng của công ty và thông tin về các vấn đề thực hiện hợp đồng, thời điểm bà A thông báo thì S1 thể hiện ý chí là sẽ thanh lý hợp đồng nhưng sau khi Toàn T2 khiếu nại thì S1 đề nghị tổ chức đấu thầu lại, sau đó mới ra văn bản chính thức về việc chấm dứt hợp đồng. Việc Sunjin ngừng đặt đơn hàng từ ngày 13/6/2024 đến ngày 05/07/2024 cũng không vi phạm hợp đồng vì không có ràng buộc cụ thể nào về số lượng, sản lượng tối thiểu hay tần suất vận chuyển trong thỏa thuận hợp đồng.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH S2. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2024/KDTM-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Áp dụng các Điều 302, 303, 304, 306 Luật Thương mại 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Công ty TNHH Đ với bị đơn- Công ty TNHH S2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa".
Về án phí:
Công ty TNHH Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 69.966.000₫ (sáu mươi chín triệu chín trăm sáu mươi sáu ngàn đồng) được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 44.983.000đ (bốn mươi bốn triệu chín trăm tám mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00007454 ngày 25/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
Số còn lại công ty Đ phải nộp là 24.893.000đ.
Bị đơn công ty TNHH S2 không phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho công ty TNHH S2 số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0000335 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thu Hương |
Bản án số 24/2025/KDTM-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vận chuyển
- Số bản án: 24/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vận chuyển
