|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HSST Ngày 23/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phi Yến.
Bà Phan Thị Hà Giang
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ an xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai tại 02 điểm cầu ( điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An và điểm cầu thứ hai là Trại tạm giam công an tỉnh N) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn G, xã B (xã M, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12;dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo:không; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 và bà Lang Thị H, sinh năm 1982; Vợ Lý Lục V, sinh năm 2002; Con có 01 người, sinh năm 2022; A, chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ 01; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/3/2020, Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” tại QĐ số 29/QĐ-XPVPHC ngày 30/3/2020.
- Ngày 10/11/2022, Toà án nhân dân Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2023. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Huy H1, sinh năm 1996; địa chỉ: K Y, Phường T, tỉnh Nghệ An. ( Chủ cửa hàng C tại địa chỉ: Xóm M, Phường T, tỉnh Nghệ An). Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/7/2025, Trần Văn T1 (sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã K, tỉnh Nghệ An) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS FI, màu đen chở Đặng Văn T2 (sinh năm 2010, trú tại xóm E, xã B, tỉnh Nghệ An) và Nguyễn Văn T đi từ nhà di chuyển theo đường liên xã hướng về xã K, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi, khi đến địa phận thôn P, xã Đ (xã T, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An, T nhìn thấy ở phía trước sân của cửa hàng V1 có 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn vàng biển số 37E1- 280.89 của chị Nguyễn Thị M1 (sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã Đ, tỉnh Nghệ An) đang cắm chìa khóa ở xe nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này
Khi T1 điều khiển chiếc xe đi qua cửa hàng vật liệu xây dựng khoảng 200 mét, thì T nói với T1 “Cho tau xuống xe để xử lý tý công việc, bay về trước đi” (Ý Thời xin xuống xe xử lý công việc riêng, còn T2 và T1 về trước đi), thì T2 và T1 đồng ý. Sau khi T xuống xe, thì T1 chở T2 tiếp tục đi theo đường liên xã hướng về xã K, còn T đi bộ quay lại cửa hàng vật liệu xây dựng B. Tại đây, T đi đến cạnh chiếc xe mô tô nói trên, ngồi lên xe, dùng tay phải mở khóa đề nổ xe, rồi điều khiển xe quay lại Quốc lộ A, di chuyển theo hướng huyện N (cũ). Khi đi đến xã N, huyện N (cũ), T dừng xe lại, mở kiểm tra cốp xe, thì phát hiện bên trong có 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Thời lấy số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và đăng ký xe bỏ vào túi quần phía sau bên phải, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô di chuyển đi về xã H. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến Đại lộ V - C, T thấy bên đường có Cửa hàng C, thuộc xóm M, phường V, tỉnh Nghệ An, nên đã dừng lại, mục đích cầm cố chiếc xe mô tô nói trên để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trước khi vào, T mở cốp xe lấy số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) còn lại cất vào túi quần. Khi đi vào tiệm cầm đồ, T gặp Trần Huy H1 (sinh năm 1996, trú tại khối Y, phường T, tỉnh Nghệ An - Là người quản lý Cửa hàng cầm đồ) và nói "Cầm cho em cái xe với". H1 nói lại "Xe em muốn cầm mấy", thì T trả lời "Em muốn cầm sáu triệu” (Ý Thời muốn cầm cố chiếc xe trên với giá 6.000.000 đồng)". Nghe vậy, H1 nói tiếp "Em cho anh mượn giấy tờ xe". Lúc này, T đưa Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và chìa khóa xe cho H1, cùng H1 đi ra kiểm tra xe. Kiểm tra xong, H1 đưa cho T số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Sau đó, T bắt xe taxi đi về huyện T (cũ), di chuyển đến nhiều xã trên địa bàn, tiêu xài hết toàn bộ số tiền nói trên.
Ngày 11/7/2025, chị M1 đã đến Công an xã Đ, tỉnh Nghệ An để trình báo sự việc mình đã bị kẻ gian lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, biển số 37E1- 280.89 và 1.300.000 đồng. Cùng ngày, Nguyễn Văn T đã ra đầu thú và khai nhận về hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, biển số 37E1-280.89 của chị Nguyễn Thị M1 vào ngày 05/7/2025 .
3
Ngày 11/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô mà bị can đã lấy trộm nói trên. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An kết luận: “Giá trị tài sản của xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Lead, màu: vàng, số máy: 45E-0275628, số khung: 01DY-634590, biển kiểm soát 37E1-280.89, sản xuất năm 2014, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 7 năm 2025, có giá trị là: 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng chẵn)”
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ tại anh Trần Huy H1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn vàng, biển số 37E1-280.89, số khung 01DY-634590, số máy 45E-0275628, xe đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 030342, tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị M1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị M1 đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn vàng, biển số 37E1-280.89 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 030342. Còn số tiền 1.300.000 đồng chị M1 không yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường. Anh Trần Huy H1 yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 6.000.000 đồng là số tiền anh H1 đưa cho T khi cầm cố chiếc xe mô tô nói trên.
Bản cáo trạng số 04/CT –VKS - KV 5 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 09 – 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho anh Trần Huy H1.
Bị hại đã được trả lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.300.000 đồng nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, không tự bào chữa, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
4
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho anh Trần Huy H1.
Đối với số tiền 1.300.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường do đó bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu được; lời khai bị hại; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/7/2025 tại cửa hàng V2 địa phận thôn P, xã Đ (xã T, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn vàng, biển số 37E1-280.89 có giá trị 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) và số tiền 1.300.000 đồng của chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1991; trú tại thôn P, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn T chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị M1 là 8.800.000 đồng (Tám triệu, tám trăm ngàn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 30/3/2020 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; ngày 10/11/2022 bị Toà án nhân dân Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2023.Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
5
Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn vàng, biển số 37E1-280.89 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản, nay bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.300.000 đồng nên không xem xét.
Anh Trần Huy H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng là tiền do bị cáo cầm cố xe trộm cắp cho anh H1, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H1 số tiền 6.000.000đồng. Xét thấy anh Trần Huy H1 không biết chiếc xe này là tài sản do Nguyễn Văn T trộm cắp mà có, do đó ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho anh Trần Huy H1.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Trần Huy H1, sinh năm 1996, trú tại khối Y, phường T, tỉnh Nghệ An là người đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn T trộm cắp mà có, tuy nhiên anh H1 không biết chiếc xe này là tài sản do T thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với anh H1 là đúng pháp luật.
Anh Đặng Văn T2 và Trần Văn T1 là người trước đó đi cùng Nguyễn Văn T, tuy nhiên, A và anh T2 không biết và không tham gia vào việc trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Văn T nên nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với anh T1, anh T2 là đúng pháp luật.
Ngày 11/7/2025, Công an phối hợp với trạm y tế xã Đ tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Nguyễn Văn T. Kết quả, Nguyễn Văn T dương tính với ma tuý (MOP). Qua xác minh tại xã B thì tại thời điểm này Nguyễn Văn T không thuộc diện đối tượng quản lý về ma tuý quy định tại các điểm a, b, c, d Khoản 1, Điều 256a theo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó Nguyễn Văn T không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại Điều 256a, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2015 nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/7/2025.
6
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu) cho anh Trần Huy H1, sinh năm 1996; trú tại: K Y, Phường T, tỉnh Nghệ An.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 ( Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Dũng |
Bản án số 24/2025/HSST ngày 23/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
