|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HSST |
|
|
Ngày: 21 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Trung;
- Bà Hạp Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 20/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Võ Việt T; sinh năm 1997, tại: Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký NKTT: thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chổ ở hiện nay: 263/1 L, phường B, quận B, TP .; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn C và bà: Tống Thị N; vợ, con: chưa;
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 28/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn N1; sinh năm 1996, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: C đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở hiện nay: Nhà không số, Tổ C, Ấp F (ấp E mới), xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Bích N2, sinh năm 1965; vợ, con: chưa;
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 28/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: D tổ A, thôn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 28/5/2024, Võ Việt T đang điều khiển xe máy biển số 72H1-238.15 chở Nguyễn Văn N1 đi trên đường tìm quán ăn thì N1 nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên rủ T hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung. T đồng ý nên cả hai thống nhất mỗi người hùn 250.000 đồng. Tiếp đó, N1 gọi điện thoại cho người bán có số điện thoại 0784.571.xxx (chưa rõ lai lịch) để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì được người bán hẹn đến trước Trường học T, đường L, phường P, quận T. T điều khiển xe chở N1 đến trước số A L, phường P, quận T thì gặp 02 thanh niên nam nữ (chưa rõ lai lịch) cùng đi trên xe gắn máy hiệu Nouvo (không rõ biển số). Tại đây, người phụ nữ ngồi sau đưa cho N1 một gói thuốc lá hiệu Jet chứa ma túy đá, N1 đưa cho người phụ nữ số tiền 500.000 đồng (do Trung ứng trả trước). Sau khi nhận gói thuốc Jet chứa ma túy đá xong, N1 đưa lại cho T bỏ vào hộc đựng đồ bên trái của xe Vision biển số 72H1-238.15 rồi cả hai đi tìm nơi để sử dụng.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi T và N1 đến trước địa chỉ số I L, phường P, quận T, thì bị Tổ công tác 363 Công an Thành phố H phối hợp Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy và Công an phường P, quận T phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa ma túy đá và đưa về trụ sở Công an phường P làm rõ.
Theo Kết luận giám định số 6589/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở lục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4313g, loại Methamphetamine.
Qua xác minh số điện thoại 0784.571.xxx được biết do Vũ Thị Thúy P, sinh ngày 09/11/1984, Hộ khẩu thường trú: 26 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký chủ thuê bao. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa chỉ trên không có ai tên Vũ Thị Thúy P cư trú.
Vật chứng thu giữ:
- Thu của Võ Việt T:
- 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 72H1-23815, số máy: JF66E0451315; số khung: RLHJF5818GY504515.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, imei: 357763862624535. T khai là tài sản riêng, không sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu của Nguyễn Văn N1:
- 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 869542064719728, N1 khai có sử dụng để liên lạc mua ma túy vào ngày 28/5/2024.
- 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 865871041606219. Đây là điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn N1 sử dụng cá nhân.
- 01 gói thuốc lá nhãn hiệu JET.
- 01 gói được niêm phong số 6589 (1968) bên trong chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn N1 và Võ Việt T (đương sự), Lương Minh T2 và Lê Thanh L (điều tra viên), Nguyễn Quốc C1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSQ.TP ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.
- Các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Võ Việt T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 28/5/2024, tại trước địa chỉ số I L, phường P, quận T, Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 có hành vi cất giữ 0,4313g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vai trò tham gia của các bị cáo trong vụ án này là ngang nhau.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Đối với hai đối tượng nam nữ (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho Võ Việt T và Nguyễn Văn N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang tiếp tục truy tìm, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Thu của Võ Việt T:
- Đối với 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 72H1-23815, số máy: JF66E0451315; số khung: RLHJF5818GY504515, T khai mượn của bạn tên Nguyễn Hoàng P1 vào ngày 25/5/2024 tại nhà của P1 ở P, Bà Rịa - Vũng Tàu) nhưng T không nhớ địa chỉ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, imei: 357763862624535. T khai là tài sản riêng, không sử dụng vào việc phạm tội. Cần tuyên trả lại cho bị cáo.
- Thu của Nguyễn Văn N1:
- Đối với 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 869542064719728, N1 khai có sử dụng để liên lạc mua ma túy vào ngày 28/5/2024. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 865871041606219. Đây là điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn N1. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo N1.
- Đối với 01 gói thuốc lá nhãn hiệu JET. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 gói được niêm phong số 6589 (1968) bên trong chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn N1 và Võ Việt T (đương sự), Lương Minh T2 và Lê Thanh L (điều tra viên), Nguyễn Quốc C1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Qua xác minh, xe máy biển số 72H1-23815, số máy: JF66E0451315; số khung: RLHJF5818GY504515 do chị Nguyễn Thị H, địa chỉ số D tổ A H, Đ, Đ, Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên chủ sở hữu (BL 72), nhưng hiện chị H không còn sinh sống tại địa phương, chuyển đi nơi khác, không rõ địa chỉ nơi đến. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đề nghị Ban chuyên đề Công an Thành phố H đăng tin truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến nhận. Giao cho Chi cục Thi hành dân sự quận T, TP . đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Án phí: Các Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2] Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xử phạt: bị cáo Võ Việt T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 28/05/2024.
[4] Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N1 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 28/05/2024.
[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói thuốc lá nhãn hiệu JET; 01 gói được niêm phong số F (1968) bên trong chứa ma túy, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn N1 và Võ Việt T (đương sự), Lương Minh T2 và Lê Thanh L (điều tra viên), Nguyễn Quốc C1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 869542064719728.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N1: 01 điện thoại di động Redmi, số imei: 865871041606219.
- Trả lại cho bị cáo Võ Việt T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, imei: 357763862624535.
- Giao cho Chi cục Thi hành dân sự quận T, TP. đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số: 72H1-23815, số máy: JF66E0451315; số khung: RLHJF5818GY504515
Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 869/PNK ngày 17/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.
[7] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo Võ Việt T, Nguyễn Văn N1 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 24/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
