|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 24/2025/HSST Ngày 25 - 03 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Thành – Bà Phan Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Khoa - Chức danh: Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 28/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1994 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm Q, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Không xác định; Họ tên mẹ: Trần Thị N, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Hà Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/4/1988 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Hà Văn Q1, sinh năm 1959; Họ tên mẹ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Hà Văn U; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28/01/1993 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Hà Văn T, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1970; Có vợ là Nguyễn Thị N2, sinh năm 1996 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An.(Có mặt)
- Ông Hà Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Người chứng kiến: Ông Đặng Xuân Đ1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 02 phút ngày 03/12/2024, Hà Văn U nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã gọi điện cho Hà Văn Q và nói “anh lấy được đồ không, anh em ta chung tiền về ta chơi”, Q nói “rửa anh với em góp mỗi người một triệu mua về ta chơi” thì U đồng ý, Quyền nói “để anh hỏi thử coi có không rồi anh báo lại”. Sau đó, Hà Văn Q sử dụng tài khoản Zalo “H” gọi đến tài khoản Zalo của Trần Văn Đ để hỏi mua ma túy, Q nói “có không lấy giúp cho anh hai triệu” thì Đ trả lời “ok, anh xuống đi”.
Đến 11 giờ 09 phút cùng ngày, Hà Văn U điều khiển xe mô tô đến đón Hà Văn Q rồi chở Q đi xuống xã D, huyện D. Trên đường đi, U chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V đến số tài khoản ngân hàng M1 của Q. Khi đến cầu thuộc xã D, huyện D cả hai dừng lại chờ. Lúc này, Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô đến gần Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, Trần Văn Đ gọi điện cho Q qua tài khoản Z và nói “anh chạy đến ủy ban xã D”. U điều khiển xe mô tô chở Q đến gặp Đ, Đ nói “chuyển tiền đi để em chạy đi lấy” thì Q nói “ừ”. Sau đó, Q chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng trên của Quyền đến số tài khoản ngân hàng M1 của Đ, còn Đ điều khiển xe mô tô trên đi ra khu vực cống B thuộc xã D, huyện D để mua ma túy. Sau khi chuyển tiền, U và Q đi đến khu vực cầu D chờ Đ. Lúc này, Trần Văn Đ đến khu vực cống Ba Cửa gặp một người đàn ông lái xe ôm không rõ nhân thân lai lịch và hỏi “Lấy được hồng không lấy cho em triệu rưỡi với” thì người đàn ông này nói “lấy được, đưa tiền đây”. Đ đưa cho người này 1.500.000 đồng thì người này nhận tiền và điều khiển xe rời đi, khoảng 05 phút sau, người này quay lại và đưa cho Đ 01 gói ni lông màu trắng bên trong có 25 viên ma túy hồng phiến. Đ cầm gói ma túy, điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ga S thuộc xã D, huyện D rồi gọi điện qua Z cho Q nói “anh chạy lên chỗ đường tàu chỗ ga S đi, em đến đây rồi”. Sau đó, U chở Q đến khu vực ga S thì gặp Đ đang đứng chờ. Đ nói với Q “anh sang xe em ngồi” thì Q lên xe Đ ngồi, Đ điều khiển xe chở Q đi đến khu vực cánh đồng thuộc xã D, huyện D cách nơi U đứng chờ khoảng 500 mét. Tại đây, Đ lấy ra và đưa cho Q số ma túy mà Đ vừa mua, Q cầm gói ma túy trên tay và đi bộ về vị trí U đang đứng chờ để đi về còn Đ điều khiển xe đi về một mình.
Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi U điều khiển xe chở Q về đến khu vực đoạn đường liên xóm thuộc xóm Đ, xã P, huyện Y thì bị Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại vị trí trong lòng bàn tay trái của Hà Văn Q 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có 25 viên nén hình tròn, màu hồng (nghi là ma túy); thu giữ của Hà Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G màu xanh, bên trong gắn sim số 0962.498.567, đã qua sử dụng; thu giữ của Hà Văn U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen, bên trong gắn sim số 0971.080.116 đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirbladeFI màu đen vàng, biển kiểm soát 37P1-02808.
Cùng ngày 03/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn Đ, khám xét chỗ ở của Trần Văn Đ thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng bên trong gắn sim số 0962.628.113 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu đỏ biển kiểm soát 37F2-637.23.
Ngày 03/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (nghi là ma túy) thu giữ của Hà Văn Q, Hà Văn U xác định tổng khối lượng 25 viên nén hình tròn, màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Hà Văn Q và Hà Văn U có tổng khối lượng 2,385 gam.
Tại kết luận giám định số 982/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 09/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“- 05 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hà Văn Q, Hà Văn U và Trần Văn Đ gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine;
- Số viên nén hình tròn, màu hồng (25 viên) thu giữ của Hà Văn Q, Hà Văn U và Trần Văn Đ có tổng khối lượng 2,385 gam)”
Quá trình điều tra Hà Văn Q, Hà Văn U và Trần Văn Đ đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các Bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKSYT, ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố Trần Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, các Bị cáo Hà Văn Q, Hà Văn U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 33(Ba mươi ba) tháng tù đến 36(Ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Hà Văn Q từ 20(Hai mươi) tháng tù đến 24(Hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Hà Văn U từ 15(Mười lăm) tháng tù đến 18(Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu trưng cầu giám định.
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G màu xanh, bên trong gắn sim số 0962.498.567, đã qua sử dụng của Hà Văn Q;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu đen, bên trong gắn sim số 0971.080.116 đã qua sử dụng của Hà Văn U;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng bên trong gắn sim số 0962.628.113 đã qua sử dụng của Trần Văn Đ;
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Truy thu tại bị cáo Trần Văn Đ số tiền 500.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc bị cáo mua bán ma túy.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Hà Văn Q, Hà Văn U phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2 qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo không tranh luận đối đáp gì với bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên;Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội: Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 03/12/2024, tại khu vực xóm Đ, xã P, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y đã phát hiện, bắt quả tang Hà Văn Q và Hà Văn U, tại vị trí trong lòng bàn tay trái của Hà Văn Q 01 gói ni lông màu trắng. Vật chứng là 25 viên nén màu hồng thu giữ đã được lấy mẫu trưng cầu giám định, được kết luận là ma túy, có tên gọi Methamphetamine. Tổng khối lượng 25 viên ma túy là 2,385(Hai phẩy ba trăm tám mươi lăm gam). Toàn bộ số ma túy này Hà Văn Q và Hà Văn U khai mua của Trần Văn Đ vào ngày 03/12/2024 để sử dụng. Cùng ngày 03/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở đối với Trần Văn Đ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn Đ, Hà Văn Q và Hà Văn U khai nhận hành vi phạm tội.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Y truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo Hà Văn Q và Hà Văn U tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Vụ án thuộc thuộc loại án nghiêm trọng. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy do các bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật. Các bị cáo đều nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh. Tuy biết vậy nhưng chỉ vì hám lợi, bị cáo Đ đã mua bán ma túy nhằm kiếm lời; Vì đua đòi, nghiện ngập, xem thường pháp luật nên bị cáo Q, bị cáo U đã liều lĩnh cùng nhau góp tiền, góp công sức đi mua ma túy với mục đích là tàng trữ sử dụng chung.
Các bị cáo đều có nhân thân tốt. Tuy nhiên, mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo khác nhau, nên cần phân hóa để xử phạt với mức hình phạt tương xứng.
[3.1] Đối với Trần Văn Đ: Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo liều lĩnh, xem thường pháp luật thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cần xử phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3.2] Đối với Hà Văn Q, bị cáo Hà Văn U: Là những đối tượng nghiện ma túy thường xuyên giao du chơi với nhau, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực, bị cáo U là người rũ Q, đón Q, góp tiền cùng với bị cáo Q đi mua ma túy để về sử dụng. Có thể khẳng định bị cáo Hà Văn U thực hiện hành vi phạm tội còn tích cực hơn bị cáo Hà Văn Q. Tuy nhiên, tra cứu về nhân thân lý lịch thì bị cáo U có lý lịch tốt hơn bị cáo Q. Do đó cần áp dụng pháp luật xử phạt bị cáo Hà Văn U với mức án thấp hơn bị cáo Hà Văn Q. Bị cáo Hà Văn Q tuy không tích cực bằng bị cáo U nhưng cũng là người liên lạc với người bán ma túy, chung tiền để cùng với bị cáo U đi mua mà túy. Đánh giá hành vi và sự nguy hiểm của các bị cáo thấy rằng cần phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tính giáo dục, trừng trị đối với các bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo được hưởng chung tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, bị cáo U còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là có thành tích xuất sắc được sư đoàn 324 tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua; ông nội của bị cáo Hà Văn U là ông Hà Xuân T1 có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
[4] Hình phạt bổ sung: Do điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn, thu nhập thấp không ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ ma túy thu giữ còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định (Mẫu giám định không hoàn lại) cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu gói vật chứng thu giữ của Hà Văn Q, Hà Văn U là vật chứng liên quan đến vụ án, là chất gây nghiện, vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Quá trình điều tra đã thu giữ của các bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G màu xanh, bên trong gắn sim số 0962.498.567, đã qua sử dụng của Hà Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, bên trong gắn sim số 0971.080.116 đã qua sử dụng của Hà Văn U; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong gắn sim số 0962.628.113 đã qua sử dụng của Trần Văn Đ. Xét thấy 03 chiếc điện thoại di động trên là phương tiện để bị cáo giao dịch mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu, hóa giá sung ngân sách nhà nước.
- Xử lý tiền thu lợi bất chính: Bị cáo Trần Văn Đ đã thu lợi bất chính từ việc bán ma túy số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), nên cần truy thu để sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADEFI màu đen vàng, biển kiểm soát 37P1 – 02808 đã qua sử dụng thu giữ của Hà Văn U. Quá trình điều tra xác định tài sản này là của ông Hà Văn T, sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã P là bố đẻ của Hà Văn U. Ông Hà Văn T không biết Hà Văn U sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe cho ông Hà Văn T là đúng quy định.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Janus, màu đỏ biển kiểm soát 37F2-637.23 đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn Đ. Quá trình điều tra xác định tài sản này là của bà Trần Thị N, sinh năm 1969, trú tại xóm Q, xã N, huyện D là mẹ đẻ của Trần Văn Đ. Bà Trần Thị N không biết Trần Văn Đ sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe cho bà N là đúng qui định.
[6] Về vấn đề khác:
[6.1] Đối với người đàn ông làm nghề lái xe ôm không rõ nhân thân, lai lịch đã bán ma túy cho Trần Văn Đ tại khu vực cống B thuộc xã N, huyện D theo khai nhận của Trần Văn Đ, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được người này nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6.2] Đối với ông Hà Văn T và bà Trần Thị N là những người đã cho Hà Văn U, Trần Văn Đ mượn xe mô tô, quá trình điều tra xác định ông Hà Văn T và bà Trần Thị N không biết Hà Văn U và Trần Văn Đ sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy nên không xem xét xử lý là đúng quy định.
[7] Án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Hà Văn Q, Hà Văn U phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 2(Hai) năm 10(M) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo (Ngày 03/12/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn Q 21(Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo (Ngày 03/12/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn U 15(Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo (Ngày 03/12/2024).
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015, điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 20(Hai mươi) viên nén hình tròn là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 1.91g(Một phẩy chín mươi mốt gam) cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G màu xanh, bên trong gắn sim số 0962.498.567, thu giữ của Hà Văn Q.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, bên trong gắn sim số 0971.080.116 thu giữ của Hà Văn U.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong gắn sim số 0962.628.113 thu giữ của Trần Văn Đ.
Toàn bộ số vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước đối với Trần Văn Đ số tiền 500.000đ(Năm trăm nghìn đồng).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Buộc: Các bị cáo Trần Văn Đ, Hà Văn Q, Hà Văn U mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM:HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hưng |
8
Bản án số 24/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy Trần Văn D, Hà Văn Q, Hà Văn U
