Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2025/HS-ST

Ngày: 13 - 03 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Minh và bà Đàm Thị Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 và quyết địnhh hoãn phiên tòa số 04/2025 ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Số CCCD: [...]; cấp ngày 11/08/2021; Nơi cấp: Cục C.

Nơi cư trú: Thôn G, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Con ông: Lê Xuân Q, sinh năm 1949 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1952; Vợ: Lê Thị D, sinh năm 1990; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014; Con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/12/2014, bị Tòa án nhân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 21/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 25/5/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 39 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 28/7/2015 bị cáohoàn thành xong nghĩa vụ nộp án phí và các khoản truy thu. Ngày 22/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Anh Đỗ Văn N, sinh năm 2005 ( Có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

+ Cháu Đỗ Kim N1, sinh năm 2009

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1979( Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07 tháng 6 năm 2024, Lê Văn T (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A-068.80 lưu thông trên Quốc lộ D theo hướng Đông (T đi thành phố T), khi đi đến KM 34 Quốc lộ D thuộc địa phận phố T, xã D, huyện T thì T bật đèn xi nhan trái và chuyển hướng rẽ trái sang đường vào thôn G, xã D để về nhà.

Lúc này, Đỗ Văn N không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô Honda Wave A (dung tích xilanh 110 cm³) biển số 36D1-700.57 chở theo cháu Đỗ Kim N1 (sinh năm 2009; ở cùng thôn với N) ngồi phía sau đi bên phải làn đường theo hướng ngược lại (hướng Tây), đến địa điểm trên thì mặt trước bên trái ba đờ sốc trước xe ô tô BKS: 36A – 068.80 do T điều khiển đâm va với mặt ngoài giảm xóc trước bên trái xe mô tô BKS: 36D1 - 700.57 do anh N điều khiển, làm cho anh N và cháu N1 ngã văng vào sân quán cà phê của gia đình anh Trương Văn H1, cháu N1 va vào chậu xi măng trồng cây cảnh để trước sân làm chậu bị vỡ; xe mô tô cày xuống mặt đường để lại vết cà trượt trên mặt đường phía Bắc của Quốc lộ D. Hậu quả, anh N và cháu N1 bị thương.

- Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Đỗ Văn N do Công an huyện T lập ngày 07/6/2024 tại Bệnh viện Đ thể hiện:

  • + Vết thương trầy xước da vùng cẳng chân trái kích thước (6 x 1)cm, lộ xương, chảy máu.
  • + Nhiều vết thương trầy xước da vùng cẳng chân trái đau, rỉ máu.
  • + Vết thương rách da bàn chân trái kích thước khoảng 4cm, đau chảy máu.
  • + Đau sưng nề hạn chế vận động khuỷu tay phải, kèm trầy xước da.
  • + Đau, sưng, trợt da vùng mào chậu bên trái.
  • + Đau sưng hạn chế vận động ngón I bàn chân trái.

Kết luận giám định số 5096/KL-KTHS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của V1 Bộ C1 kết luận: Thương tích của Đỗ Văn N tại thời điểm giám định là 31% (ba mươi mốt phần trăm).

- Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Đỗ Kim N1 do Công an huyện T lập ngày 07/6/2024 tại Bệnh viện Đ thể hiện:

  • + Vết thương vùng đùi trái kích thước (6 x 4)cm, chảy nhiều máu lộ đầu xương gãy.
  • + Đau sưng nề hạn chế vận động gối trái, vết thương ngón II chân trái kích thước 1cm.
  • + Răng cửa hàm trên lung lay.

Kết luận giám định số 5097/KL-KTHS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của V1 Bộ C1 kết luận: Thương tích của Đỗ Kim N1 tại thời điểm giám định là 33% (ba mươi ba phần trăm).

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là ngã tư giao cắt giữa Quốc lộ D với đường bê tông liên thôn có số hiệu DX 11 – Mày Đáy thuộc địa phận thôn P, xã D, huyện T. Quốc lộ D có hướng Đông – T, đường L – Mày Đáy có hướng Bắc – N. Mặt đường Quốc lộ 47 được rải nhựa bằng phẳng có chiều rộng 13,6m; đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, tim đường được kẻ bằng vạch sơn rời, hai bên đường là khu dân cư và nằm trong khu vực có biển báo “khu vực đông dân cư”. Tại vị trí giao cắt, đường bê tông liên thôn có chiều rộng nhất là 6m. Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận xe ô tô 36A-068.80, xe mô tô 36D1-700.57, 01 vết cày trượt không liên tục dài 1,15m; 01 chậu cây cảnh bằng xi măng cùng nhiều mảnh vỡ. Vị trí, kích thước các dấu vết được mô tả trong các biên bản kèm theo của Cơ quan điều tra.

- Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn thể hiện: phần ba - đờ - sóc trước bên trái, mặt trước bên trái nắp ca – pô, phần đầu bên trái và hệ thống đèn chiếu sáng bên trái xe ô tô 36A-068.80 bị vỡ, lún và cong vênh. Mặt trước ngoài giảm sóc bên trái đến mặt trước ngoài bên trái lốc máy, cần ly số và giá để chân trước bên trái xe mô tô 36D1-700.57 có nhiều vết cà trượt làm mòn sơn màu đen, kim loại trong diện (94 x 36)cm. Vết có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái. Bề mặt vết bám dính chất màu trắng dạng sơn.

- Bản Kết luận số 2472/KL-KTHS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định:

  • + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước bên trái ba đờ sốc trước xe ô tô BKS: 36A – 068.80 với mặt ngoài giảm xóc trước bên trái xe mô tô BKS: 36D1 - 700.57.
  • + Tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS: 36A – 06880 chuyển động từ trái sang phải, chếch ngược chiều với xe mô tô BKS: 36D1 - 700.57.
  • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cày trượt số (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, trong khu vực ngã ba nơi giao nhau giữa Quốc lộ D với đường liên thôn D - M (hướng đi thôn G, xã D).
  • + Không đủ cơ sở xác định tốc độ của phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.

- Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất hình ảnh camera an ninh tại quán cà phê của gia đình anh Trương Văn H1 ghi lại hình ảnh vụ va chạm ra 01 USB làm căn cứ giải quyết vụ việc. Tại bản Kết luận giám định số 3174/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định.

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại xe ô tô BKS: 36A – 068.80 và các giấy tờ xe; tạm giữ và trả lại xe mô tô BKS: 36D1 - 700.57 cùng giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu. 01 USB được đựng trong phong bì niêm phong chứa video hình ảnh liên quan đến nội dung vụ án cùng 01 giấy phép lái xe của Lê Văn T được đưa vào hồ sơ vụ án.

- Bản cáo trạng số 16/CT- VKS- TS, ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố bị cáo Lê Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản thân có giấy phép lái xe hợp lệ, không sử dụng rượu bia và các chất kích thích khác đã điều khiển xe ô tô 36A – 068.80 khi chuẩn bị rẽ trái sang đường, T phát hiện phía trước có xe mô tô do Đỗ Văn N điều khiển đi ngược chiều nhưng thấy còn xa ( cách khoảng 50m) nên T chủ quan cho rằng không xảy ra va chạm, T bật đèn xinhan xin đường rồi cho xe chuyển hướng mà không nhường đường cho xe của anh N đang đi thẳng. Khi đầu xe ô tô còn cách lề đường bên trái tầm 2m thì xe mô tô do anh N điều khiển đã đi đến và xảy ra va chạm. Hành vi và hậu quả gây ra như bản cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng.

Về phần bồi thường thiệt hại bị cáo trình bày bị hại và bị cáo đã thỏa thuận số tiền bồi thường và bị cáo đã bồi thường cho các gia đình bị hại như sau: Bồi thường tiền tổn thất do sức khỏe cháu Đỗ Kim N1 bị xâm phạm tổng số tiền bằng 100.000.000đ; bồi thường tiền sửa xe mô tô BKS: 36D1 - 700.57 và tiền tổn thất do sức khỏe của anh Đỗ Văn N bị xâm phạm tổng bằng 34.700.000đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh N trình bày: Bản thân chưa có giấy phép lái xe mô tô nhưng lại tự ý lấy xe mô tô của anh trai (Đỗ Văn V) từ nhà ở huyện T, chở theo cháu Đỗ Kim N1 ( là em gái họ) đi đến thành phố T để đón anh trai của N1 ở trường cao đẳng N2 ở thành phố T rồi trở về nhà. Thời điểm xảy ra tai nạn, N điều khiển xe với tốc độ khoảng 70km/h – 80km/h. Khi còn cách xe ô tô khoảng 20m thì phát hiện xe ô tô đang chuyển hướng rẽ trái. Do do khoảng cách gần và di chyển với tốc độ cao nên không kịp xử lý.

Về phần bồi thường thiệt hại, anh N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình giải quyết vụ án người đại diện pháp luật của cháu N1 là anh Đỗ Văn H ( bố của N1) khẳng định đã được bị cáo bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
  • + Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
  • + Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe.
  • + Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về sức khỏe cho 02 người bị hại, nhưng bị cáo cũng đã khắc phục xong, anh N và anh H đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Những chứng cứ xác định có tội của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người bị hại; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; biên bản khám phương tiện; Bản kết luận giám định thương tích và dấu vết trên phương tiện, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Km34 Quốc lộ D thuộc địa phận thôn P, xã D, huyện T, Lê Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A-06880 theo hướng Đông rẽ trái sang đường để đi vào đường bê tông liên thôn D-M. Xe do T điều khiển không nhường đường cho xe đang đi thẳng trên đường dẫn đến đâm va vào xe mô tô biển số 36D1-70057 do Đỗ Văn N điều khiển chở theo cháu Đỗ Kim N1 ngồi phía sau, khiến anh N và cháu N1 bị ngã làm cả hai bị thương. Hậu quả: Anh N tổn hại 31% sức khỏe, cháu N1 tổn hại 33% sức khỏe. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 64%

Hành vi của Lê Văn T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ;

[3]. Tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho mọi người khi tham gia giao thông. Trong vụ án này bị cáo do không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về an toàn giao thông đường bộ, không đảm bảo an toàn cho các phương tiện khác đang lưu thông trên đường, không tuân thủ nguyên tắc về chuyển hướng xe ( rẽ trái) và không nhường đường cho xe đi ngược chiều, nên đã đâm va vào xe mô tô biển số 36D1-70057 do Đỗ Văn N điều khiển chở theo cháu Đỗ Kim N1 ngồi phía sau. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc đâm va gây tai nạn làm cho anh N và cháu N1 bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người bằng 64%. Tuy nhiên việc gây ra tai nạn không phải lỗi hoàn toàn của bị cáo, mà cũng do một phần lỗi của bị hại gây ra, anh Đỗ Văn N điều khiển xe mô tô dung tích xilanh 110cm³ BKS 36D1-700.57 chở theo cháu Đỗ Kim N1 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan quan sát, không giảm tốc độ nên dẫn đến tai nạn giao thông. Vì vậy khi lượng hình cần phải đưa ra hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai khai, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Việc gây ra tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại, ngoài ra còn được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 04/12/2014 bị Tòa án nhân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 21/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 25/5/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 39 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999. Như vậy nhân thân của người phạm tội là một trong những yêu tố cân nhắc khi quyết định hình phạt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, ý thức chấp hành pháp luật. Do Lê Văn T có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy bị cáo được áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng;

Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5]. Về vật chứng: Đối với các phương tiện liên quan đến tai nạn, sau khi tiến hành khám phương tiện cơ quan Công an đã trả lại cho chủ phương tiện đúng quy định của pháp luật nên không xét. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và anh Đỗ Văn N, anh Đỗ Văn H ( bố của cháu N1) đã thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự và tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 260, khoản 1 Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1, 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ";

3. Xử phạt: Xử phạt bị cáo 08 ( tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận tự nguyện bồi thường, không có ý kiến gì thêm nên không xem xét.

5. Về vật chứng vụ án: Đã trả lại cho các chủ phương tiện đúng quy định của pháp luật nên không xét. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...], cấp ngày 19/7/2022 có giá trị đến ngày 19/7/2032. Hiện đang bảo quản tại hồ sơ vụ án.

6. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Điều 331, 333, 337 Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 6; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tiểu mục 1, mục I danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết 326.

- Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo và anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh H có quyền có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Triệu Sơn;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Triệu Sơn.
  • - Bị cáo; Bị hại.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T vi phạm giao thông - Viện kiểm sát đề nghị án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger