Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận

Ông Trần Ngọc Thiện

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bù Đăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06, 07 và ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

Các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nông Văn L, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1968, tại tỉnh: Bắc Kạn. Nơi thường trú: thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Tày, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...], cấp ngày 25/4/2021. Nghề nghiệp: Làm nông, Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Nông Văn Đ (đã chết). Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Đ1 (đã chết). Họ và tên vợ: Lý Thị T, sinh năm 1982. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2005. Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024 cho đến nay.
  2. Họ và tên: Dương Văn P, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1969, tại tỉnh: Cao Bằng. Nơi thường trú: thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Nùng, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...], cấp ngày 05/4/2021. Nghề nghiệp: Làm nông, Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Dương Văn D (đã chết). Họ và tên mẹ: Sầm Thị V (đã chết). Họ và tên vợ: Trương Thị S, sinh năm: 1977. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2001. Bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024 cho đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trương Thị S, sinh năm 1977 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  • + Bà Lý Thị T, sinh năm 1982 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2023, Nông Văn L đi xe khách đi từ nhà thuộc thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước đến thị trấn P, huyện C, tỉnh Lâm Đồng với mục đích để mua thuốc phiện về để sử dụng và bán cho người khác. Khi đến khu vực thị trấn P, huyện C, tỉnh Lâm Đồng Lạc gặp một người đàn ông tên A (không rõ nhân thân, lý lịch) đang ở ngoài đường nên L hỏi mua 4.900.000 đồng tiền thuốc phiện thì Anh đồng ý. Sau đó, Anh đưa cho L một gói nylon màu đen bên trong có chứa chất dẻo màu đen là ma túy, loại thuốc phiện, L đưa tiền cho A, rồi L cất gói ma tuý vừa mua được vào túi quần rồi đi xe khách về nhà. Lạc lấy số ma túy mới mua ra chia thành 04 gói nylon (gồm 03 gói nylon màu trắng và 01 gói nylon màu đen), rồi để 01 gói nylon màu đen và 02 gói nylon màu trắng vào trong một hũ nhựa có nắp màu trắng cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ của L, còn 01 gói nylon màu trắng còn lại L bỏ vào trong một hũ nhựa màu trắng để ngoài phòng khách cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/9/2024, Dương Văn P, điều khiển xe mô tô biển số: 93H1 - 198.85 đi từ nhà thuộc thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước đến nhà Nông Văn Lạc hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy loại thuốc phiện thì L đồng ý, P đưa số tiền là 5.000.000 đồng (trong đó gồm số tiền là 3.000.000 đồng là tiền mua ma túy là thuốc phiện ngày 05/9/2024 và số tiền 2.000.000 đồng là tiền mua ma túy loại thuốc phiện mà P mua vào đầu tháng 8/2024 chưa trả). Sau khi mua được ma túy Phóng bỏ trong túi áo khoác bên trong phía trước bên trái P đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Lúc 12 giờ 35 phút cùng ngày, P đi đến quán phở tại chợ B để ăn trưa thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện 02 gói nylon có khối lượng 17,5574 gam (ký hiệu M1, có chữ ký của P) nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa P về làm việc. Qua lời khai của P, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B tiến hành kiểm tra, khám xét nhà Nông Văn Lạc thu giữ 04 gói nilon có khối lượng 192,1880 gam là ma túy, là thuốc phiện (ký hiệu M2, có chữ ký của L). Thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với L, thu giữ niêm phong tang vật là ma túy, thu giữ: 01 xe ô tô biển số: 93H1 - 198.85 của P, 01 cân điện tử, số tiền 5.000.000 đồng của L để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 953/KL-KTHS ngày 12 tháng 09 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Chất dẻo màu đen (ký hiệu M1) bên trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, là thuốc phiện, có khối lượng 17,5574 gam. Chất dẻo màu đen (ký hiệu M2) bên trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, là thuốc phiện, có khối lượng 192,1880 gam.

Tại bản cáo trạng số: 04/CTr –VKS ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nông Văn L về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Dương Văn P về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn Lạc P1 “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Dương Văn P phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị:

  • +Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông văn L từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
  • +Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông văn L từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Áp dụng Điều 55 của bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nông Văn L phải chấp hành hình phạt chung là: 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Dương Văn P từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
  • Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, thường xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Xử lý vật chứng:
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 93H1 - 198.85, nhãn hiệu HonDa, số loại Future FI, màu nâu vàng; số khung 53736Z024717; số máy JC 54E 3069080; Dung tích 125; Kèm ĐKX số 005264 của bị cáo Dương Văn P là phương tiện bị cáo P dùng vào việc phạm tội đi mua ma tuý để tàng trữ.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 cân điện tử; 01 bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu số: 953/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý thuốc phiện cho bị cáo P.
  • -Án phí: Buộc các bị cáo nộp theo quy định.
  • Đối với người đàn ông tên A (không rõ nhân thân, lý lịch) bán ma túy cho Nông Văn L; không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, nên VKS không đề cập.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Văn L và Dương Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng tháng 10 năm 2023, Nông Văn L đi xe khách đi từ nhà thuộc thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước đến thị trấn P, huyện C, tỉnh Lâm Đồng với mục đích để mua thuốc phiện về để sử dụng và bán cho người khác. Khi đến khu vực thị trấn P, huyện C, tỉnh Lâm Đồng Lạc gặp một người đàn ông tên A (không rõ nhân thân, lý lịch) đang ở ngoài đường nên L hỏi mua 4.900.000 đồng tiền thuốc phiện thì Anh đồng ý. Sau đó, Anh đưa cho L một gói nylon màu đen bên trong có chứa chất dẻo màu đen là ma túy, loại thuốc phiện, L đưa tiền cho A, rồi L cất gói ma tuý vừa mua được vào túi quần rồi đi xe khách về nhà. Lạc lấy số ma túy mới mua ra chia thành 04 gói nylon (gồm 03 gói nylon màu trắng và 01 gói nylon màu đen), rồi để 01 gói nylon màu đen và 02 gói nylon màu trắng vào trong một hũ nhựa có nắp màu trắng cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ của L, còn 01 gói nylon màu trắng còn lại L bỏ vào trong một hũ nhựa màu trắng để ngoài phòng khách cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/9/2024, Dương Văn P, điều khiển xe mô tô biển số: 93H1 - 198.85 đi từ nhà thuộc thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước đến nhà Nông Văn Lạc hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy loại thuốc phiện thì L đồng ý, P đưa số tiền là 5.000.000 đồng (trong đó gồm số tiền là 3.000.000 đồng là tiền mua ma túy là thuốc phiện ngày 05/9/2024 và số tiền 2.000.000 đồng là tiền mua ma túy loại thuốc phiện mà P mua vào đầu tháng 8/2024 chưa trả). Sau khi mua được ma túy Phóng bỏ trong túi áo khoác bên trong phía trước bên trái P đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Lúc 12 giờ 35 phút cùng ngày, P đi đến quán phở tại chợ B để ăn trưa thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện 02 gói nylon có khối lượng 17,5574 gam (ký hiệu M1, có chữ ký của P) nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa P về làm việc. Qua lời khai của P, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B tiến hành kiểm tra, khám xét nhà Nông Văn Lạc thu giữ 04 gói nilon có khối lượng 192,1880 gam là ma túy, là thuốc phiện (ký hiệu M2, có chữ ký của L). Thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với L, thu giữ niêm phong tang vật là ma túy, thu giữ: 01 xe ô tô biển số: 93H1 - 198.85 của P, 01 cân điện tử, số tiền 5.000.000 đồng của L để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 953/KL-KTHS ngày 12 tháng 09 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Chất dẻo màu đen (ký hiệu M1) bên trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, là thuốc phiện, có khối lượng 17,5574 gam. Chất dẻo màu đen (ký hiệu M2) bên trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, là thuốc phiện, có khối lượng 192,1880 gam.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nông Văn L đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Văn P đã phạm“Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Nông văn L và Dương Văn P có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên đã tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra bị cáo Nông Văn L với mục đích kiếm lời nên đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuốc phiện 02 lần cho Dương văn P vào ngày 05/9/2024 với số tiền 3.000.000 đồng và vào đầu tháng 8/2024 với số tiền 2.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Đối với bị cáo Nông văn L:

  • -Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.

[3.2] Đối với bị cáo Dương Văn P:

  • -Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.

Xét toàn bộ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, hội đồng xét xử thấy cần xét xử các bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiến sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, thường xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Đối với người đàn ông tên A (không rõ nhân thân, lý lịch) bán ma túy cho Nông Văn L; không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, nên VKS không đề cập.

[6] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[7] Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 93H1 - 198.85, nhãn hiệu HonDa, số loại Future FI, màu nâu vàng; số khung 53736Z024717; số máy JC 54E 3069080; Dung tích 125; Kèm ĐKX số 005264 của bị cáo Dương Văn P là phương tiện bị cáo P dùng vào việc phạm tội đi mua ma tuý để tàng trữ.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cân điện tử; 01 bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu số: 953/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh B.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý thuốc phiện cho bị cáo P.

[8] Án phí: Buộc các bị cáo nộp theo quy định.

[9] Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn Lạc P1 “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng pháp luật và hình phạt:
  • -Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nông văn L 01 (một) năm tù.
  • -Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nông Văn L 07 (bảy) năm tù.
  • Áp dụng Điều 55 của bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nông Văn L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Văn P 01(một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  • Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, thường xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  1. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 93H1 - 198.85, nhãn hiệu HonDa, số loại Future FI, màu nâu vàng; số khung 53736Z024717; số máy JC 54E 3069080; Dung tích 125; Kèm ĐKX số 005264 của bị cáo Dương Văn P là phương tiện bị cáo P dùng vào việc phạm tội đi mua ma tuý để tàng trữ.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 cân điện tử; 01 bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu số: 953/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý thuốc phiện cho bị cáo P.
  • (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ký hiệu D47/2017; Quyển số 0205; Số 0010208 ngày 24/02/2025 giữa Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý thuốc phiện cho bị cáo P.
  • (Uỷ nhiệm chi ngày 24/02/2025 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện B từ số tài khoản 5606205484414 đến số tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng 39490104658500000 tại Kho bạc Nhà nước)
  1. Án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
  • Buộc bị cáo Nông Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Buộc bị cáo Dương Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger