Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 06 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST- HS ngày 20/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Võ Thị Thu H, sinh ngày 27/6/1988 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ C, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: E B, phường H, quận N, thành phố Đ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn S(chết) và bà Trần Thị X(chết), có chồng là Phan Thanh V(đã ly hôn) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  2. Trần Thị Kim L, sinh ngày 30/3/1991 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: G D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: E B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phi H1(chết) và bà Đinh Thị Kim T là Nguyễn Minh L1(đã ly hôn) và 04 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • Ngày 25/9/2008 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999;
    • Ngày 01/02/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  3. Nguyễn Văn L2, sinh ngày 02/3/1985 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: E B, phường H, quận N, thành phố Đ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N2 là Phạm Thị Trúc N(Đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/10/2024. Có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn L2Ông Bùi Xuân N1– Luật sư Cộng tác viên Trung tâm T3. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị L3sinh năm 1995; Trú tại: Khu phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  2. Chị Đặng Thị T1 năm 1994; Trú tại: Tổ A, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 17/10/2024, tại phòng trọ của nhà số E, đường B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, Võ Thị T2 H3cho T4 (số tiền do đối tượng nam thanh niên chưa rõ nhân thân, lai lịch đưa cho H4đó để mua ma túy cùng sử dụng) và số điện thoại của đối tượng tên H4(người Huyền liên lạc mua ma túy) rồi nói L2chở Lđi đến khu vực cảng cá T thuộc phường T, quận S mua ma túy mục đích để sử dụng chung. Sau đó, L2điều khiển xe mô tô BKS: 92H1-2199 chở L3đến điểm hẹn gặp H4mua ma túy rồi về lại phòng trọ chờ bạn của H5sử dụng ma túy. Do bạn của H6việc nên H7Lvà L2lấy gói ma túy vừa mua sử dụng. Lúc này, H801 chai nhựa gắn 01 ống hút nhựa có sẵn từ trước đưa vào phòng ngủ rồi nói L4nỏ thủy tinh trong túi xách của H9vào nắp chai nhựa tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tiếp đến, H8gói ma túy vừa mua đổ vào nỏ thủy tinh và L4bật lửa đốt nóng ma túy để HLvà L2cùng sử dụng. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, HLvà L2bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận N phối hợp với Công an phường H.

* Tang vật tạm giữ:

  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 chai nhựa được gắn với nhau);
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, gắn sim số 0775.946.095;
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, gắn sim số 0934.966.054 và số 0912.149.604;
  • 01 xe mô tô Yamaha Sirius BKS: 92H1- 2199; Số máy 5C6J036094; số khung RLCS5C6J0DY036072;

Kết quả xét nghiệm ma túy vào ngày 17/10/2024: HL và L2đều dương tính với ma túy tổng hợp.

Kết quả xác minh: HLvà L2không thuộc đối tượng nghiện ma túy của địa phương.

Tại kết luận giám định số 881/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K- Công an thành phố Đxác định: Nỏ thủy tinh gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng chất bám dính.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS -NHS ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Võ Thị T2HTrần Thị Kim Lvà Nguyễn Văn L2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh nói trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Võ Thị T2 H1007 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thị Kim L3 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt N307 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với các vật chứng gồm: 01 bì thư màu trắng ký hiệu L1 chứa mẫu giám định hoàn trả theo Quyết định trưng cầu số 1373 ngày 18/10/2024 của Phòng KCông an thành phố Đ có chứa 01 nỏ thủy tinh và bao gói mẫu; 01 chai nhựa có gắn ống hút ở nắp chai; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước với các vật chứng gồm 01 điện thoại di động hiệu OPPO, gắn sim số 0775.946.095 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, gắn các sim số 0934.966.054 và 0912.149.604.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo V1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã đề cập. Các bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Các bị cáo thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và điều luật đề nghị áp dụng tại phiên tòa, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có điều kiện được chăm sóc con cái.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng đã có lời khai thống nhất tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Tại phiên tòa các bị cáo cũng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng như đã đề cập trên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 00 ngày 17/10/2024 tại phòng trọ số E B, phường H, quận N, Trần Thị Kim LVõ Thị Thu Hvà Nguyễn Văn L2cùng nhau tổ chức sử dụng chất ma túy loại Methaphetamine đến 17 giờ 30' cùng ngày thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Nguồn gốc ma túy là do Hđưa tiền cho LL2cùng đi mua, mục đích để sử dụng như trên. Do đó Cáo trạng số 10/CT-VKS -NHS ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội nên cần phải bị xử phạt thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục và làm gương cho người khác.

[3.1] Trong vụ án này, Võ Thị T2 H11người khởi xướng, trực tiếp liên hệ với đối tượng tên H4để hỏi mua ma túy sau đó đưa tiền cho Trần Thị Kim Lónói N4mua ma túy của H4Khi có ma túy bị cáo cũng là người chủ động đề nghị cả nhóm cùng sử dụng, bị cáo cũng là người chuẩn bị nỏ thủy tinh để sẵn trong túi xách đồng thời chuẩn bị chai nhựa gắn ống thủy tinh và trực tiếp đổ ma túy vào để cả nhóm sử dụng. Xét bị cáo là người giữ vai trò chính do đó, đối với bị cáo phải xử phạt mức án nghiêm khắc, tương xứng với vai trò của bị cáo trong vụ án.

[3.2] Bị cáo Trần Thị Kim L7người có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong vụ án này bị cáo cũng là người thực hành tích cực, là người nhận tiền từ H12đi mua ma túy, khi sử dụng bị cáo là người dùng bật lửa đốt ma túy cho cả nhóm sử dụng. Do đó đối với bị cáo cũng cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo. Đánh giá về nhân thân, vai trò Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án bằng bị cáo Võ Thị T2 H11phù hợp.

[3.3] Nguyễn Văn L2là người được Võ Thị T2 T2HTrần Thị Kim L4 chở đi mua ma túy để cùng sử dụng, bị cáo tiếp nhận ý chí và trực tiếp chở L3lấy ma túy tại cảng cá Tsau đó cùng sử dụng, hành vi của bị cáo cũng góp phần gây ra hậu quả của vụ án này nên cũng cần bị xử phạt tương xứng.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo HL2có nhân thân tốt, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cả ba bị cáo đều khai báo thành khẩn, bị cáo H13đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo L2thuộc diện hộ nghèo của địa phương. Do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho các bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

[5.1] Đối với đối tượng nam thanh niên đưa tiền cho Hmua ma túy để sử dụng và đối tượng tên H4bán ma túy cho H hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Công an tiếp tục làm rõ và xử lý sau. Phạm vi vụ án này, Viện kiểm sát không đề cập Hội đồng xét xử không đề cập.

[5.2] Đối với chị Đặng Thị T3 chủ nhà trọ số 59 Bcho các bị cáo thuê nhà mục đích ở trọ, chị H5không biết, không liên quan gì đến việc sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm là phù hợp, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.3] Đối với chị Nguyễn Thị L5 xe mô tô Sirius có số máy: 5C6J036094; số khung: RLCS5C6J0DY036072 do Cơ quan Điều tra thu giữ từ các bị cáo. Quá trình điều tra xác định xe này chị L3bị mất trộm vào khoảng tháng 4 năm 2023, tại số nhà G đường T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng NamDo đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N văn bản chuyển thông tin cùng xe mô tô này cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Phạm vi vụ án này Hội đồng xét xử không đề cập. Chị L3có quyền liên hệ với Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đ để được giải quyết vụ việc liên quan đến tài sản bị mất nói trên.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với vật chứng là 01 bì thư màu trắng ký hiệu L1 chứa mẫu giám định hoàn trả theo Quyết định trưng cầu số 1373 ngày 18/10/2024 của Phòng KCông an thành phố Đ có chứa 01 nỏ thủy tinh và bao gói mẫu; 01 chai nhựa có gắn ống hút ở nắp chai là dụng cụ sử dụng ma túy và bao vỏ gói hoàn trả sau giám định xét không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, gắn sim số 0775.946.095 thu giữ của Trần Thị Kim L và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, gắn các sim số 0934.966.054 và 0912.149.604 thu giữ của Võ Thị T2 T2Hlà phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc trao đổi thông tin liên quan đến việc mua và sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Thị T2HTrần Thị Kim LNguyễn Văn L2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Võ Thị Thu H2(B(Stháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Trần Thị Kim L6(B(Stháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  3. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Nguyễn Văn L7(B năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/10/2024.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 bì thư màu trắng ký hiệu L1 chứa mẫu giám định hoàn trả theo Quyết định trưng cầu số 1373 ngày 18/10/2024 của Phòng KCông an thành phố Đ có chứa 01 nỏ thủy tinh và bao gói mẫu; 01 chai nhựa có gắn ống hút ở nắp chai.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, gắn sim số 0775.946.095 thu giữ của Trần Thị Kim L và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, gắn các sim số 0934.966.054 và 0912.149.604 thu giữ của Võ Thị Thu H;

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng).

  5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    Buộc các bị cáo Võ Thị T2HTrần Thị Kim LNguyễn Văn L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - CQCSĐT CA quận N;
  • - Cơ sở tạm giam;
  • - THA dân sự quận N;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Đoàn Công Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Thu H phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger