TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày: 21 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Minh
- Ông Trần Đình Đậu
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Tiến H (tên gọi khác: C), sinh năm 1982 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu I, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim S, sinh năm 1953 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Hoàng Thị Thu L1, sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con bé sinh năm 2010; Tiền án: Bản án số 139/2022/HSST ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, án phí hình sự 200.000 đồng. H đã thi hành xong ngày 09/6/2023; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 27/7/2023 đến ngày 03/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
- Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu D, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Hà Thị Lan H1, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 27/7/2023 đến ngày 03/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Hà Huy V, sinh ngày 20/4/1991 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ E, khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T3, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Ngọc S1, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Hoàng Hương T4, sinh năm 1998 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Bản án số 31/2022/HSST ngày 27/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”, án phí hình sự 200.000 đồng, V đã chấp hành xong ngày 09/5/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/7/2011, Công an thành phố V có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. V đã nộp phạt xong ngày 13/7/2011; Ngày 10/11/2021, Công an thành phố V có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 3.000.000 đồng về hành vi sử dụng các loại vũ khí không có giấy phép. V đã nộp phạt xong ngày 15/11/2021. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Hồng Q, sinh năm 1983
Nơi thường trú: Tổ B, khu N, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Số nhà A, phố L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2022, do cần tiền để thi công công trình và có quen biết từ trước nên Đỗ Hồng Q (Là Giám đốc Công ty TNHH T6) đã gọi điện thoại cho Nguyễn Tiến H hỏi vay của H số tiền 1.000.000.000 đồng, có trả lãi vay. Hòa đồng ý và hẹn gặp Q để thống nhất. Sau đó, do không có đủ số tiền trên nên H đã rủ Hà Huy V và Nguyễn Ngọc T cùng góp tiền để cho anh Q vay lấy lãi, T và V đồng ý. Ngày 22/11/2022, H cùng V và T trực tiếp đến nhà Q thỏa thuận việc cho Q vay 1.000.000.000 đồng với lãi suất là 120.000.000 đồng/tháng tương ứng với lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày (tương đương 12%/tháng và 144%/năm), tiền lãi sẽ thanh toán vào ngày 22 hàng tháng, anh Q đồng ý. Việc cho vay được hai bên lập thành Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 153,7m² và nhà trên đất mà Q cùng gia đình đang sinh sống cho Nguyễn Ngọc T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đỗ Thanh B, sinh năm 1957 và Trần Thị Bích H2, sinh năm 1959 là bố mẹ đẻ Q). Sau khi ký hợp đồng, H, V và T thống nhất với nhau về việc góp tiền cho Q vay để cùng hưởng lãi suất, trong đó, H góp số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), V góp số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), T góp số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu đồng) bằng cách chuyển tiền vào tài khoản số [...] của T mở tại Ngân hàng TMCP Q1 (V1). Sau đó, H đã bảo chị Hoàng Thị Thu L1, sinh năm 1980, trú tại: Tổ A, khu I, phường N, thành phố V là vợ của H chuyển số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) vào tài khoản của T. V đưa tiền mặt cho chị Hoàng Thị Thu L1 nhờ chị L1 chuyển số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), nhờ anh Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1990, trú tại: Tổ A, khu H, phường G, thành phố V (H3 là bạn của V) chuyển số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) vào tài khoản của T. Sau khi nhận đủ tiền của H, V và T đã chuyển số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) từ tài khoản số [...] của T mở tại Ngân hàng TMCP Q1 (V1) đến tài khoản số 1040058566535 của Q mở tại Ngân hàng TMCP C1 (V2).
Trong quá trình cho vay, H, V và T thống nhất thoả thuận: H là người đứng ra nhận tiền lãi hàng tháng từ Q sau đó sẽ chia cho V và T. Q thống nhất với H sẽ thanh toán lãi suất hàng tháng dưới hình thức đưa tiền mặt cho chị Phạm Thị Bích H4, sinh năm 1988, trú tại: Phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (H4 là kế toán Công ty TNHH T6) để H4 chuyển vào tài khoản số 19028207682015 của chị Hoàng Thị Thu L1 mở tại Ngân hàng TMCP K (T7). Từ tháng 12/2022 đến tháng 04/2023, chị H4 đã nhận tiền mặt từ Q và nhiều lần chuyển khoản tiền lãi vào tài khoản của chị L1, với tổng số tiền 344.000.000đ (Ba trăm bốn mươi tư triệu đồng). Cụ thể:
- + Ngày 28/12/2022, Q trả 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) tiền lãi cho khoản vay từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2022. Số tiền lãi trên được H nhận và chia cho T 34.000.000đồng, cho V 35.500.000 đồng, H được nhận 50.500.000 đồng. Như vậy, với lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày (tương đương 12%/tháng và 144%/năm) đã gấp 7,2 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền lãi theo lãi suất 20% quy định tại Bộ luật dân sự là: 16.666.667₫/1.000.000.000đồng. Tổng số tiền H, T và V thu lời bất chính trong việc cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự vượt quá 05 lần mức lãi cao nhất (20%/năm) quy định trong Bộ luật dân sự là 120.000.000₫ - 16.666.667đ = 103.333.333₫ (Một trăm linh ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
- + Ngày 18/01/2023, Q trả 120.000.000 đồng tiền lãi cho khoản vay từ tháng 12/2022 đến tháng 01/2023. Số tiền lãi trên được H nhận và chia cho T 36.000.000đồng, cho V 38.000.000 đồng, H được nhận 46.000.000 đồng. Như vậy, với lãi suất 12%/tháng tương đương 144%/năm, vượt 7,2 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền lãi theo lãi suất 20% quy định tại Bộ luật dân sự là: 16.666.667 đồng/1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền H, T và V thu lời bất chính trên 5 lần mức lãi cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 120.000.000₫ – 16.666.667đ = 103.333.333đ (Một trăm linh ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
- + Từ ngày 18/01/2023 đến ngày 19/4/2023, do không có khả năng thanh toán nên Q trả lãi thành 04 lần với tổng số tiền lãi cho 03 tháng là 104.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H chia cho T 25.200.000 đồng, cho V 26.000.000 đồng, H được nhận 52.800.000 đồng. Như vậy, với lãi suất 12%/tháng tương đương 144%/năm đã vượt 7,2 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền lãi theo lãi suất 20% quy định tại Bộ luật dân sự là: 50.000.000₫/1.000.000.000 đồng từ ngày 18/01/2023 đến ngày 19/4/2023. Tổng số tiền H, T và V thu lời bất chính trên 5 lần mức lãi cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 104.000.000₫ – 50.000.001đ = 53.999.999đ (Năm mươi ba triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng).
Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 04/2023 (05 tháng), H, T và V đã cho anh Q vay số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) với mức lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày, tương đương với mức lãi suất 144%/năm, đã vượt quá 7,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%năm) thu được tổng số tiền 344.000.000đ (Ba trăm bốn mươi bốn triệu đồng). Sau khi nhận tiền, Nguyễn Tiến H đã chia cho T 95.200.000 đồng và chia cho V 99.500.000 đồng, H hưởng lợi 149.300.000đồng. Tổng số tiền lãi theo lãi suất 20% quy định tại Bộ luật dân sự là: 83.333.335đồng. Tổng số tiền thu lời bất chính là 260.666.665đồng.
Đến tháng 4/2023, do lãi suất quá cao, không còn khả năng thanh toán nên anh Q không thanh toán được lãi suất nên H, T và V đã yêu cầu anh Q phải thanh toán trả toàn bộ số tiền nợ bao gồm tiền gốc và lãi còn thiếu. Đến ngày 26/7/2023, anh Q đã làm đơn tố giác sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tạm giữ: 01 hợp đồng đặt cọc ghi ngày 22/11/2022 giữa ông Đỗ Thanh B và bà Trần Thị Bích H2 với Nguyễn Ngọc T (lưu trong hồ sơ vụ án); 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei: 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 kèm sim trong máy số 0392.729.099 của Nguyễn Tiến H. Ngoài ra, H tự nguyện giao nộp số tiền 16.667.000 đồng, T tự nguyện giao nộp số tiền 25.000.000 đồng, là số tiền lãi theo lãi suất 20% quy định tại Bộ luật dân sự.
Quá trình điều tra, đến ngày 30/8/2023, các bị cáo Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T và Hà Huy V đã khắc phục hoàn trả số tiền thu lời bất chính 260.666.000 đồng cho anh Đỗ Hồng Q. Anh Q đã nhận số tiền trên và không có đề nghị gì khác.
Bản cáo trạng số: 150/CT- VKS-VT ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T và Hà Huy V về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến H và Hà Huy V.
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T, Hà Huy V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 240.000.000₫ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Hà Huy V 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng)
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm.
Sau khi bản án số 155/2023/HS -ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có hiệu lực pháp luật.
Ngày 04/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC1-HS kháng nghị Bản án số 155/2023/HS - ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000.000 đồng (từ người liên quan là anh Đỗ Hồng Q) theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 09/12/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13ª/QĐ-VC1-HS thay đổi, bổ sung Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC1-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội như sau: Đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội huỷ Bản án số 155/2023/HS -ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để xét xử lại.
Quyết định giám đốc thẩm số 30/2024/HS-GĐT ngày 20/12/2024 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định: Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VC1-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội và Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 13ª/QĐ-VC1-HS ngày 09/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội: Huỷ một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về phần biện pháp tư pháp và phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Hà Huy V để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Qua xác minh thì từ khi xét xử sơ thẩm đến nay, anh Đỗ Hồng Q vẫn chưa trả cho các bị cáo: Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T và Hà Huy V một khoản tiền nào từ số tiền vay 1.000.000.000 đồng.
Qua xác minh về việc thi hành Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đến nay Hà Huy V đã thi hành được số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; chưa thi hành được: số tiền truy thu 41.667.000 đồng và tiền phạt 220.000.000 đồng. Đối với Nguyễn Ngọc T đã thi hành được: tịch thu nộp ngân sách 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng); án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và tiền phạt 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Đối với Nguyễn Tiến H đã thi hành được: tịch thu 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng); tiền phạt 31.000.000₫ (Ba mươi mốt triệu đồng); tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 và tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim số thuê bao 0392.729.099.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án trước đã tuyên. Đến nay, anh Đỗ Hồng Q vẫn chưa trả số tiền vay 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố: bị cáo Hà Huy V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Áp dụng khoản 2 điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; điều 17; điều 38; điều 58, khoản 5 điều 65 và khoản 2 điều 56 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Huy V.
- - Xử phạt: Bị cáo Hà Huy V từ 08 tháng tù đến 12 tháng tù về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tổng hợp với hình phạt 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 27/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tội: “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 14 tháng tù đến 18 tháng tù về các tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2021 đến ngày 14/12/2021 của Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 27/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V.
- - Về xử lý vật chứng, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến H: Số tiền 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) do bị cáo H tự nguyện nộp và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong số tiền 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 theo Quyết định thi hành án chủ động số 379/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Ngọc T số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) do bị cáo T tự nguyện nộp để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) theo Quyết định thi hành án chủ động số 380/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến H 01 thẻ sim số thuê bao 0392.729.099 để tiêu huỷ. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong theo Quyết định thi hành án chủ động số 379/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Truy thu của bị cáo V số tiền 41.667.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Truy thu của anh Đỗ Hồng Q số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Hà Huy V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo Quyết định thi hành án chủ động số 381/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo V nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội huỷ một phần để xét xử sơ thẩm lại về phần biện pháp tư pháp và phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Hà Huy V nên các quyết định khác của Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có hiệu lực pháp luật thi hành nên Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này.
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan anh Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Xét thấy việc anh Q vắng mặt tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Căn cứ các tài liệu điều tra, bản án số 155/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo: Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T, Hà Huy V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Hình sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”
[3].Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng là người thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với bị cáo V là người có nhân thân không tốt, đã bị xử phạt hành chính nhiều lần và đã bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội: “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã phạm. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Lần phạm tội này bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bà nội được tặng bảng vàng danh dự, được nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có hai bác là Liệt sỹ và đã khắc phục hoàn trả số tiền thu lời bất chính cho anh Q được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo V cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì về hình phạt đối với bị cáo V là phù hợp. Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 27/6/2022 nên căn cứ khoản 5 điều 65 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 6 tháng tù của Bản án trên và áp dụng khoản 2 điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 3 điều 201 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm.”.
Xét thấy, bị cáo V không có tài sản, thu nhập không ổn định, không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:
Đối với số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) mà các bị cáo Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc T và Hà Huy V cho anh Đỗ Hồng Q vay là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Qua xác minh đến thời điểm hiện nay, anh Q chưa trả cho các bị cáo số tiền vay trên nên cần truy thu của anh Quân số tiền trên để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 41.667.000đ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) là tiền lãi bị cáo V được chia. Đây là số tiền thu lời bất chính, qua xác minh bị cáo V chưa nộp số tiền trên nên cần truy thu của bị cáo V số tiền trên để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) do bị cáo H tự nguyện nộp và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 thu giữ của bị cáo H, đây là số tiền thu lời bất chính và điện thoại dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì đã thi hành xong nên cần xác nhận;
Đối với số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) do bị cáo T tự nguyện nộp, đây là số tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì đã thi hành xong nên cần xác nhận;
Đối với 01 thẻ sim số thuê bao 0392.729.099 thu giữ của bị cáo H, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì đã thi hành xong nên cần xác nhận.
[6]. Về án phí: Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì đã thi hành xong nên cần xác nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 17; khoản 1 điều 38; điều 58; khoản 5 điều 65; khoản 2 điều 56 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Huy V.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Huy V phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Phạt Hà Huy V 08 (T5) tháng tù về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tổng hợp với hình phạt 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 27/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tội: “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 (Mười bốn) tháng tù về các tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và “Tàng trữ trái phép súng săn, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/12/2021 đến ngày 14/12/2021 của Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 27/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V.
Về xử lý vật chứng, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến H: Số tiền 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) do bị cáo H tự nguyện nộp và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong số tiền 16.667.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số imei 354650134296957, số imei 2: 355740244296952 theo Quyết định thi hành án chủ động số 379/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Ngọc T số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) do bị cáo T tự nguyện nộp để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) theo Quyết định thi hành án chủ động số 380/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến H 01 thẻ sim số thuê bao 0392.729.099 để tiêu huỷ. Xác nhận Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thi hành xong theo Quyết định thi hành án chủ động số 379/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Truy thu của bị cáo V số tiền 41.667.000₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Truy thu của anh Đỗ Hồng Q số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Hà Huy V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo Quyết định thi hành án chủ động số 381/QĐ-CCTHADS ngày 10/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thu Hiền |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố : Bị cáo Hà Huy V phạm tội: "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
