Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 20-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Trung
  2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Hữu P, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1993; tại huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S (đã chết) và bà Vũ Thị N; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: tháng 9 năm 2011 tham gia Q2 đến tháng 1 năm 2013 xuất ngũ. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17-9-2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện H, tỉnh Thái Bình - có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  2. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn Đ - Chức vụ Chủ tịch UBND xã T.

  3. UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  4. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Q - Chức vụ Chủ tịch UBND xã T.

  5. UBND xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  6. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ Chủ tịch UBND xã C.

    - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1965, nơi thường trú: thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  7. UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  8. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Công L - Chức vụ Chủ tịch UBND xã Đ.

  9. UBND xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình.
  10. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn P1 - Chức vụ Chủ tịch UBND xã X.

  11. UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
  12. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Văn H - Chức vụ Chủ tịch UBND xã An Vinh.

(đều xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Xuân C, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số nhà B, đường N, tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).
  2. Anh Đoàn Văn H1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà F, ngách A, ngõ I, đường T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng (có mặt).
  3. Anh Đặng Quang T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số C M, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1965, nơi thường trú: thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Bà Ninh Đỗ Q1, sinh năm 1976, nơi thường trú: thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  3. Ông Lưu Văn V, sinh năm 1968, nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình ( vắng mặt).
  4. Ông Đặng Xuân H2, sinh năm 1963, nơi thường trú: thôn H, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1954, nơi thường trú: thôn G, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  6. Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1957, nơi thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền chi tiêu cá nhân, Phạm Hữu P đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản tại các Đ1, C1, M và Đ2 trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Để thực hiện hành vi trộm cắp P chuẩn bị các công cụ gồm: 01 xà cầy, 01 máy cắt cầm tay (để làm dụng cụ cậy, cắt phá khóa, cửa và két sắt), 01 đèn pin loại nhỏ, 01 ba lô vải và các vỏ bao tải và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển số đăng ký 18T1-5033. Từ ngày 09-8-2024 đến ngày 30-8-2024, Phạm Hữu P đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 09-8-2024, Phạm Hữu P một mình điều khiển xe máy Honda Wave biển số đăng ký 18T1-5033 mang theo 01 xà cầy, 01 máy cắt cầm tay, 01 đèn pin loại nhỏ, 03 bao tải cho vào trong ba lô vải màu đen đi từ nhà sang huyện H, tỉnh Thái Bình. Khoảng 19 giờ 30 phút P đi đến miếu T7 ở thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Quan sát thấy cổng khóa, không có người trông coi và ở xa khu dân cư, P sử dụng máy cắt khóa cổng đi vào trong và tiếp tục cắt khóa cửa vào miếu. Khi vào trong P sử dụng đèn pin soi tìm kiếm tài sản thì phát hiện thấy có 01 chuông đồng, 01 két sắt và trên ban có 03 pho tượng (02 pho tượng nàng hầu, 01 pho tượng mẫu đồng mạ vàng). P sử dụng xà cầy cậy cửa két sắt lấy trộm số tiền công đức 1.100.000 đồng cho vào túi quần, sau đó đi đến ban thờ lấy 02 pho tượng nàng hầu bằng đồng (mỗi pho tượng nặng 27kg, cao 65cm) có trị giá thành tiền là 26.400.000 đồng bê ra sân để rồi tiếp tục quay vào sử dụng máy cắt để cắt dây bê quả chuông đồng (nặng 21,62 kg, cao 62cm, đường kính đáy 34cm, đường kính đỉnh 18cm) có giá trị thành tiền là 10.100.000 đồng mang ra ngoài sân rồi cho các tài sản trộm cắp được vào bao tải rồi chở về nhà của P cất giấu trong phòng ngủ.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 10-8-2024, P điều khiển xe máy mang theo công cụ cho vào bao tải đựng trong túi vải màu đen đi từ nhà sang huyện V, tỉnh Thái Bình. Khoảng 20 giờ cùng ngày P đến miếu H3 thuộc thôn X, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình quan sát thấy không có người trông coi, P sử dụng xà cầy phá khóa cửa nách đi vào trong rồi dùng đèn pin soi tìm kiếm tài sản, P lấy 01 bức tranh treo trên tường bằng gỗ kích thước (54x40) cm có giá trị thành tiền là 250.000 đồng, 01 ngai thờ bằng gỗ (01 ngai cao khoảng cao 120cm, kích thước đế (90x90) cm có giá trị thành tiền là 45.300.000 đồng. P dùng xà cầy mang theo tháo các bộ phận của ngai ra cho vào bao tải tiện cho việc vận chuyển. Sau khi lấy được ngai trên P mang về nhà cất giấu.

Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 19-8-2024, P mang theo công cụ cho vào bao tải rồi điều khiển xe đi sang huyện Q, tỉnh Thái Bình để trộm cắp tài sản. Khoảng 20 giờ cùng ngày P đến khu vực đền G thuộc thôn G, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, quan sát cổng khóa, không có người trông coi, P dùng máy cắt khóa cổng rồi đi vào trong đền, khi đến sân phát hiện thấy có lắp camera, P đi đến ngắt cầu dao điện. Sau đó dùng xà cầy phá khóa cửa vào bên trong dùng đèn pin soi tìm kiếm tài sản thì hiện thấy có trong hòm công đức bằng kính có một ít tiền lẻ, khoảng 200.000 đồng, P phá hòm lấy tiền cho vào túi quần rồi tiếp tục phá cửa cung cấm đột nhập vào bên trong, sử dụng xà cầy phá Long Đình lấy pho tượng gỗ Đức Thánh Đệ T4 (tư thế ngồi) cao 120cm, kích thước đế (62x62)cm có giá trị thành tiền là 34.600.000 đồng bê ra ngoài chở về nhà. Phước chụp ảnh pho tượng trên gửi cho anh Bùi Xuân C và anh Đoàn Văn H1 để bán. Sau khi xem ảnh H1 đã đồng ý mua pho tượng trên với giá 42.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: khoảng 17 giờ ngày 23-8-2024, P mang theo công cụ điều khiển xe sang địa bàn huyện H để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, P phát hiện thấy chùa Khỏe cổng đóng, không có người trông coi và ở xa khu dân cư. P để xe ở cánh đồng sau đó dùng máy cắt cắt ổ khóa cổng đi vào trong, khi đến sân quan sát thấy trên hiên chùa có lắp đặt camera an ninh, để tránh bị phát hiện P đi vòng ra phía sau giật đứt dây điện kết nối với camera, sau đó dùng xà cầy phá khóa cửa chùa đi vào trong, quan sát thấy có camera Phước tiến lại gần giật đứt dây điện kết nối với cam rồi dùng xà cầy phá két sắt nhưng không được nên P đã lấy 01 tượng gỗ mẫu ngồi (Ngọc Dung H) cao 70cm, kích thước đế (55x43)cm có giá trị thành tiền là 7.000.000 đồng, 02 bát hương bằng sứ có giá trị thành tiền là 660.000 đồng; 01 đế bát hương bằng đá có giá trị thành tiền là 180.000 đồng rồi mang về nhà cất giấu. Đến ngày 25-8-2024, P đã bán toàn bộ số đồ trộm cắp được tại chùa K cho anh Bùi Xuân C với giá 28.000.000đồng.

Vụ thứ năm: Khoảng 17 giờ ngày 27-8-2024, P mang theo công cụ điều khiển xe đi sang địa bàn huyện Đ, tỉnh Thái Bình để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, P phát hiện thấy chùa T8 cổng khóa, không có người trông coi và ở xa khu dân cư. P dùng xà cầy phá khóa cổng đi vào trong chùa T9 được 09 bát hương bằng sứ cao 20cm, đường kính 25cm có giá trị thành tiền là 3.960.000 đồng; 01 ngai bằng gỗ, cao 74cm, kích thước đế (45x35)cm có giá trị thành tiền là 8.000.000 đồng, 01 ngai bằng gỗ, cao 70cm, kích thước đế (42x32)cm có giá trị thành tiền là 7.800.000 đồng, 01 pho tượng gỗ tư thế đứng, cao 85cm có giá trị thành tiền là 8.000.000 đồng, 01 pho tượng gỗ tư thế đứng, cao 82cm có giá trị thành tiền là 8.000.000 đồng, 01 pho tượng gỗ tư thế ngồi, cao 62cm có giá trị thành tiền là 7.500.000 đồng; 01 pho tượng gỗ tư thế ngồi, cao 60cm có giá trị thành tiền là 7.400.000 đồng, 02 hộp gỗ đựng sắc phong có giá trị thành tiền là 2.600.000 đồng rồi cho lên xe máy chở về nhà để cất giấu. Sau đó P đã bán cho anh Bùi Xuân C 02 ngai bằng gỗ, 02 hộp gỗ với giá 15.000.000 đồng và bán cho anh Đặng Quang T2 01 pho tượng gỗ tư thế ngồi, cao 62cm (tượng quan âm tọa sơn) với giá 33.000.000 đồng.

Vụ thứ sáu: khoảng 17 giờ ngày 30-8-2024, P mang theo công cụ rồi điều khiển xe sang huyện H, tỉnh Thái Bình để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, P phát hiện thấy Miếu T10, cổng khóa, không có người trông coi và ở xa khu dân cư không có ai trông coi. P dùng xà cầy phá khóa cổng rồi đi vào trong, thấy cửa miếu K1, P dùng xà cầy phá khóa rồi đi vào trong trộm cắp 01 chuông đồng nặng 27,1kg, cao 63cm, đường kính đáy 34cm, đường kính đỉnh 16cm có giá trị thành tiền là 12.300.000 đồng, 01 chuông đồng nặng 14kg, cao 43cm, đường kính đáy 22cm, đường kính đỉnh 12cm có giá trị thành tiền là 6.800.000 đồng (do quả chuông này nhỏ nên bị cáo vất tại gốc cây của miếu), 01 tượng gỗ mẫu ngồi (Bảo Hoa Công chúa) cao 75cm có giá trị thành tiền là 7.800.000 đồng, 01 ngai bằng gỗ, cao 95cm, kích thước đế (55x45)cm có giá trị thành tiền là 8.300.000 đồng rồi cho lên xe máy chở về nhà để cất giấu. Sau đó, P bán pho tượng Bảo Hoa Công Chúa cho anh Đoàn Văn H1 với giá 29.000.000 đồng.

Bản Kết luận định giá tài sản số 57/KLĐG ngày 18-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Tổng trị giá các tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 214.250.000 đồng đồng.

Bản cáo trạng số 17/CT-KSHH, ngày 20-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Phạm Hữu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo nhất trí bồi thường cho anh Bùi Xuân C số tiền 43.000.000 đồng; anh Đoàn Văn H1 số tiền 71.000.000 đồng; anh Đặng Quang T2 số tiền 33.000.000 đồng; Bồi thường cho UBND xã Đ, huyện Đ trị giá 06 bát hương bằng số tiền 2.640.000 đồng và số tiền công đức là 200.000 đồng); bồi thường cho UBND xã C số tiền công đức là 1.100.000 đồng. Nguồn gốc chiếc xe máy mà bị cáo sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là của chị dâu bị cáo (đã chết) cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh H1 và anh C trình bày: Các anh xác định lời khai của bị cáo là đúng, khi các anh mua các tài sản mà bị cáo P bán, các anh có hỏi bị cáo tài sản do đâu mà có, bị cáo P nói tài sản do bị cáo mua được và bán lại cho các anh, các anh không biết các tài sản trên do bị cáo P trộm cắp mà có. Nay các anh nhất trí việc bị cáo bồi thường cho các anh số tiền trên.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Hữu P như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hữu P từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 17-9-2024. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 357; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Phạm Hữu P phải bồi thường cho anh Bùi Xuân C số tiền 43.000.000 đồng; bồi thường cho anh Đoàn Văn H1 số tiền 71.000.000 đồng; bồi thường cho anh Đặng Quang T2 số tiền 33.000.000 đồng; bồi thường cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình số tiền 2.840.000 đồng; Bồi thường cho UBND xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình số tiền là 1.100.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số đăng ký 18T1- 5033 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 11 pro màu đen; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu VICTOR màu xanh đã lắp pin . Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ba lô vải màu đen; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại dài 60cm; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có cán bằng nhựa; 01 đèn pin cầm tay màu đen; 01 sợi dây cao su bọc vải bên ngoài; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh; 01 áo chống nắng có mũ màu đen; 01 chiếc khẩu trang màu đen; 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, nhãn hiệu Việt T5 đã bị hư hỏng; 03 ổ khóa Việt Tiệp màu đen đã bị hư hỏng; 01 đoạn dây cáp lõi thép bọc nhựa đã bị căt; 01 quần bò dài màu xanh; 01 áo phông ngắn tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 đôi dép giả da màu đen, trên đế có chữ “BQ FASHION”. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Phạm Hữu P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản vụ việc do Công an xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 11-9-2024; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 31-8-2024; Đơn trình báo ngày 31-8-2024 của ông Vũ Ngọc C2; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 30-8-2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 01-9-2024; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024; Đơn trình báo ngày 13-9-2024 của bà Phạm Thị T6; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 23-8-2024 tại chùa K thuộc thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình lập ngày 16-9-2024 tại trụ sở Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Đơn trình báo ngày 16-9-2024 của ông Phạm Văn L1; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 23-8-2024 tại chùa T8 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình lập ngày 16-9-2024; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024; Đơn trình báo ngày 13-9-2024 của ông Nguyễn Văn T3; Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 13-9-2024 tại đền G thuộc thôn G, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024; Đơn trình báo ngày 13-9-2024 của ông Đặng Xuân H2; Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 10-8-2024 tại Miếu T11 thuộc thôn H, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 12-9-2024; Đơn trình báo ngày 31-8-2024 của ông Trần Quốc O; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường vụ trộm cắp xảy ra ngày 10-8-2024 tại miếu T7 thuộc thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 12-9-2024; Bản kết luận định giá trong Tố tụng hình sự huyện H số 57 ngày 18-12-2024; Công văn số 562 ngày 13-9-2024 và phụ lục bản ảnh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H, tỉnh Thái Bình gửi Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh T; Các biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 13-9-2024, ngày 14-9-2024 và ngày 15-9-2024; Các biên giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình hồi 23 giờ 10 phút ngày 11/9/2024, ngày 13/9/2024 và ngày 18-9-2024; Công văn số 23 ngày 23-9-2024 của Bảo tàng tỉnh T; Sao kê tài khoản ngân hàng N1 đối với số tài khoản của Phạm Hữu P, Bùi Xuân C và Đặng Quang T2; Biên bản làm việc về việc kiểm tra điện thoại di động và ảnh chụp màn hình của Phạm Hữu P do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 12-9-2024; Lời khai của những người làm chứng ông Nguyễn Thanh T1, bà Ninh Đỗ Q1, ông Lưu Văn V, ông Đặng Xuân H2, ông Nguyễn Văn T3, ông Phạm Văn L1; Lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Bùi Xuân C, anh Đoàn Văn H1 và anh Đặng Quang T2 cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 09-8-2024 đến ngày 30-8-2024 bị cáo Phạm Hữu P đã thực hiện 06 hành vi trộm cắp tài sản là di vật, cổ vật và tiền Việt Nam đồng tại các nơi thờ tự Đ1, C1, M và Đ2 trên địa bàn các xã C, huyện H; xã Đ, huyện Đ; xã A, huyện Q và xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình. Tổng trị giá tài sản trộm cắp tại thời bị xâm hại có giá trị thành tiền là 214.250.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Hữu P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định như sau:

Điều 173: Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 triệu đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

...;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo Phạm Hữu P thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an khu vực xảy ra tội phạm. Mặc dù bị cáo thực hiện 06 lần hành vi trộm cắp tài sản trong khoảng thời gian ngắn tuy nhiên trước đó bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xét xử về hành về vi trộm cắp nên hành vi trộm cắp tài sản lần này của bị cáo không được coi là có tính chất chuyên nghiệp.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo có thời gian tham gia Q2 nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần do đó bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Đối với hành vi của anh Bùi Xuân C, anh Đoàn Văn H1, anh Đặng Quang T2 mua bán tài sản của bị cáo P là người chơi đồ cổ và thường xuyên trao đổi, mua bán với hội buôn bán đồ cổ. Khi mua các tài sản là những tài sản do bị cáo P trộm cắp mà có, tuy nhiên anh C, anh H1 và anh T2 không biết đó là tài sản do bị cáo P trộm cắp mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xử lý đối với anh C, anh H1 và anh T2 là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm bồi thường: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được những tài sản do bị cáo trộm cắp của các Đ1, C1, Đ2 và M do anh C, anh H1 và anh T2 do anh C, anh H1 và anh T2 mua của bị cáo P và đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra; Các anh C, anh H1 và anh T2 yêu cầu bị cáo P bồi thường cho các anh số tiền cụ thể anh C số tiền 43.000.000 đồng; anh H1 số tiền 71.000.000 đồng; anh T2 số tiền 33.000.000 đồng, bị cáo nhất trí, vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh C, anh H1 và anh T2 số tiền trên. Bị cáo P tự nguyện bồi thường cho UBND xã Đ trị giá 06 bát hương số tiền là 2.640.000 đồng và trả số tiền bị mất trong hòm công đức là 200.000 đồng); trả cho UBND xã C số tiền công đức là 1.100.000 đồng cần chấp nhận. UBND các xã Đ, huyện Đ; UBND xã A, huyện Q; UBND xã T, huyện H; UBND xã X, huyện V; UBND xã T, huyện H; UBND xã C, huyện H đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khóa cổng, cửa và C3 do hư hỏng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Trong qua trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc ba lô vải màu đen; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại dài 60cm; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có cán bằng nhựa; 01 đèn pin cầm tay màu đen; 01 sợi dây cao su bọc vải bên ngoài; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh; 01 áo chống nắng có mũ màu đen; 01 chiếc khẩu trang màu đen; 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, nhãn hiệu Việt T5 đã bị hư hỏng; 03 ổ khóa Việt Tiệp màu đen đã bị hư hỏng; 01 đoạn dây cáp lõi thép bọc nhựa đã bị căt; 01 quần bò dài màu xanh; 01 áo phông ngắn tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 đôi dép giả da màu đen, trên đế có chữ “BQ FASHION” đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Hữu P, là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là những đồ vật, tài sản có giá trị thấp và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số đăng ký 18T1- 5033 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 11 pro màu đen; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu VICTOR màu xanh đã lắp pin là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tuyên tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và phải chịu tiền án phí dân sự có giá ngạch số tiền là (43.000.000 đồng + 71.000.000 đồng + 33.000.000 đồng + 2.640.000 đồng + 200.000 đồng + 1.100.000 đồng) = 150.000.000 đồng x5% =7.500.000 đồng.

[11] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hữu P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17-9-2024.
  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 357; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Phạm Hữu P phải bồi thường cho anh Bùi Xuân C số tiền 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng); bồi thường cho anh Đoàn Văn H1 số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng); bồi thường cho anh Đặng Quang T2 số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng); bồi thường cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình số tiền 2.840.000 đồng (Hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng); Bồi thường cho UBND xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình số tiền là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
  4. Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ nếu bị cáo không thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số đăng ký 18T1- 5033; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 11 pro màu đen và 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu VICTOR màu xanh đã lắp pin.
  6. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ba lô vải màu đen; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại dài 60cm; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 chiếc kéo bằng kim loại, có cán bằng nhựa; 01 đèn pin cầm tay màu đen; 01 sợi dây cao su bọc vải bên ngoài; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh; 01 áo chống nắng có mũ màu đen; 01 chiếc khẩu trang màu đen; 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng, nhãn hiệu Việt T5 đã bị hư hỏng; 03 ổ khóa Việt Tiệp màu đen đã bị hư hỏng; 02 ổ khóa kim loại màu trắng, nhãn hiệu Việt T5 đã bị hư hỏng; 01 đoạn dây cáp lõi thép bọc nhựa đã bị căt; 01 quần bò dài màu xanh; 01 áo phông ngắn tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 đôi dép giả da màu đen, trên đế có chữ “BQ FASHION”.

    Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21-01-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Hữu P, anh Bùi Xuân C và anh Đoàn Văn H1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL và NVLQ;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS Công an tỉnh TB;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Phòng PV06 - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Hữu P phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger