Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS - ST

Ngày 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thanh Oai

Ông Bế Ngọc Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Lường Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Hổ và ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2025 tại hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST - HS, ngày 22 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS, ngày 05/6/2025 đối với bị cáo:

HOÀNG VĂN T

(Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 22 tháng 5 năm 1985, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học Văn hóa 3/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn M, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1962; Vợ là bà Hoàng Thị B; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” thời gian thử thách là 12 tháng tại Bản án số 21/2014/HSPT ngày 13/8/2014, bị cáo chấp hành xong ngày 13/8/2015, (đến nay đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/01/2025 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân D1 - Là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  • - Ông Triệu La V, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  • - Ông Hứa Lê B1, sinh năm 1959, địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  • - Bà Lò Thị N, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
  • - Bà Lê Thị B2, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ ngày 12/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc: Hoàng Văn T là chủ cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H có địa chỉ tại thôn N, xã Đ, huyện B có hành vi sử dụng cơ sở kinh doanh do mình quản lý để hoạt động mua bán dâm gây mất an ninh trật tự. Đến hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh phối hợp chính quyền địa phương tiến hành xác minh, kiểm tra đối với cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H phát hiện:

  • - Tại phòng số 105 (tầng 2) của cơ sở có Triệu La V và Lò Thị N đang trong tình trạng không mặc quần áo, nằm úp lên nhau trong tư thế quan hệ tình dục nam nữ.
  • - Tại phòng hát số 02 (tầng 1) của cơ sở có Hứa Lê B1 và Trần Thị T1 đang ngồi cùng nhau hát Karaoke.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tiến hành lập biên bản sự việc và khám xét khẩn cấp đối với cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H. Kết quả tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG của Hoàng Văn T; Số tiền 13.510.000₫ (Mười ba triệu, năm trăm mười nghìn đồng); nhiều vỏ, ruột bao cao su đã và chưa qua sử dụng cùng một số giấy tờ, tài liệu có liên quan.

Tại biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường ngày 14/01/2025 của Cơ quan điều tra Công an tỉnh xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc tại cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H thuộc thôn N, xã Đ, huyện B. Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an tỉnh tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Hoàng Văn T chỉ vị trí và thực hiện lại hành vi trao đổi, giao nhận tiền, gọi điện thoại cho gái bán dâm vào tối ngày 12/01/2025. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Qua điều tra đã làm rõ nội dung vụ án và hành vi của bị can Hoàng Văn T như sau: Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H được đưa vào hoạt động kinh doanh từ năm 2019 và được Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 8172774642, mã số

3

đăng ký hộ kinh doanh số: 13B8001943; đăng ký lần đầu ngày 03/9/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 09/10/2023; tên hộ kinh doanh: HỘ KINH DOANH HOÀNG VĂN THÂN; địa điểm kinh doanh: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H được Công an huyện B cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 143/GCN, ngày 31/01/2024.

Quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ Karaoke - Nhà nghỉ, Hoàng Văn T thuê 05 nhân viên nữ gồm: Lò Thị N, Trần Thị T1, Lê Thị B2, Bàn Thị S và Lường Thị B3 ăn ở tại cơ sở để phục vụ phòng hát karaoke và bán dâm khi khách có nhu cầu. Lợi dụng công việc kinh doanh lưu trú và dịch vụ karaoke, bị can T đã tổ chức hoạt động mại dâm nhằm thu lợi bất chính. Khi khách đến thuê phòng nghỉ hoặc hát karaoke và có nhu cầu mua dâm sẽ trực tiếp trao đổi đặt vấn đề với bị can T, sau khi thỏa thuận và thống nhất giá mua bán dâm, bị can T gọi điện cho nhân viên của quán dẫn khách lên phòng để mua bán dâm ngay tại cơ sở Karaoke - Nhà nghỉ H, cụ thể:

Khoảng hơn 20 giờ ngày 12/01/2025, Hứa Lê B1 và Triệu La V đến cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục, khi đến nơi thì gặp Hoàng Văn T, V đặt vấn đề muốn tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục thì được T đồng ý và nói giá mua dâm một người/01 lượt là 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng). Do V muốn hát karaoke sau đó mới quan hệ tình dục nên đã yêu cầu T lấy một phòng hát và một nhân viên nữ để hát cùng. Thân bố trí V vào phòng 02 (tầng 1) và bảo Trần Thị T1 là nhân viên của cơ sở vào phòng để hát karaoke cùng với V. Trước khi vào phòng hát, V lấy 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) đưa cho T và nói để B1 mua dâm trước, T cầm tiền và bù lại cho V 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng), rồi nói với B1 “lên tầng hai, vào phòng 104”, B1 một mình đi lên tầng hai, còn V được T dẫn vào phòng 02 hát karaoke. Sau đó, T gọi điện thoại bảo Lê Thị B2 vào phòng 104 bán dâm cho B1 và được B2 đồng ý. Bính vào phòng 104, ngồi đợi được khoảng 05 phút thì Lê Thị B2 đi vào phòng, cả hai không ai nói gì mà tự ngầm hiểu sẽ mua bán dâm với nhau nên tự cởi quần áo để quan hệ tình dục. Sau khi quan hệ tình dục xong, B2 đi về phòng 106 của mình tại tầng hai của cơ sở, còn B1 đi xuống tầng một và vào phòng hát với V và T1. Sau khi thấy B1 xuống phòng hát, V một mình đi ra quầy lễ tân gặp T để tìm gái bán dâm quan hệ tình dục và được T đồng ý. V đưa cho T số tiền mua dâm là 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng) và được T sắp xếp lên phòng 105 tại tầng hai của cơ sở. Sau đó, T gọi điện thoại cho Lò Thị N vào phòng 105 bán dâm cho V, được N đồng ý. Khi V và N đang quan hệ tình dục với nhau thì có tổ công tác đến kiểm tra, phát hiện sự việc.

Tại Cáo trạng số 22A/CT-VKSBK-P1 ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • c) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Chứa mại dâm".

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 14/01/2025. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 327 BLHS: Đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật TTHS, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 12.510.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn T để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật, không oan. Đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 21 giờ 03 phút ngày 12/01/2025, tại cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H thuộc thôn N, xã Đ, huyện B do

    5

    Hoàng Văn T làm chủ khi được Hứa Lê B1 và Triệu La V tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục. Vàng đặt vấn đề mua dâm thì T đồng ý và dùng điện thoại gọi gái bán dâm là nhân viên của cơ sở để họ mua bán dâm ngay tại cơ sở thuộc quyền sở hữu của T. Cụ thể bị cáo Hoàng Văn T đã gọi điện thoại cho Lê Thị B2 vào phòng 104 bán dâm cho Hứa Lê B1 và gọi điện thoại cho Lò Thị N vào phòng 105 bán dâm cho Triệu La V. Hoàng Văn T đã thu tổng số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) là việc mua dâm của V và B1, qua đó bị cáo T hưởng lợi từ việc mua bán dâm là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).

    Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó khẳng định việc Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  3. [3] Xét tính chất, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời xâm phạm đến nếp sống văn minh, đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, là nguyên nhân lây truyền các loại dịch bệnh. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
  4. [4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
  5. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc”, xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, nay đã được xóa án tích.

    Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã nhận thức ra được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Bị cáo có ông nội là Hoàng Văn V1 hy sinh khi tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được phong tặng Liệt sỹ và được Nhà nước tặng Bằng Tổ quốc ghi công. Do đó, bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  6. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định.
  7. [6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
    • - Số tiền 1.000.000 đồng tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn T, xác định là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

    6

    • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình cảm ứng, có ốp lưng trong suốt, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0862.306.xxx (tạm giữ của Hoàng Văn T) xác định đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà Nước (Sim gắn trong điện thoại tịch thu tiêu hủy)
    • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0325.769.xxx của Lò Thị N không liên quan đến vụ án, trả cho Lò Thị N.
    • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone, màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0365.339.xxx cho Lê Thị B2 không liên quan đến vụ án, trả cho Lê Thị B2.
    • - Số tiền 12.510.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn T không liên quan đến việc phạm tội, tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - 01 (một) túi nhựa loại có cúc bấm, bên trong có 01 (một) giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ của Công an huyện B cấp cho ông Hoàng Văn T, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 8172774642, mã số đăng ký hộ kinh doanh số: 13B8001943; đăng ký lần đầu ngày 03 tháng 9 năm 2019, đăng ký thay đổi lần thứ: 1 ngày 09 tháng 10 năm 2023; tên hộ kinh doanh: HỘ KINH DOANH HOÀNG VĂN THÂN; địa điểm kinh doanh: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn do Phòng tài chính - kế hoạch thuộc UBND huyện B cấp, 01 (một) giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 143/GCN do Công an huyện B cấp ngày 31/01/2024; họ tên người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh mang tên Hoàng Văn T, sinh năm 1985, nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; chức danh trong cơ sở kinh doanh: chủ cơ sở, không liên quan đến việc phạm tội, trả cho bị cáo T.
    • - 01 (túi) nilon màu trắng, bên trong có 08 (tám) bao cao su đã qua sử dụng và 08 (tám) vỏ bao cao su đã bị xé rách, nhiều chủng loại khác nhau (tạm giữ trong quá trình khám xét); 01 (túi) nilon màu trắng, bên trong có 02 (hai) bao cao su đã qua sử dụng, 02 (hai) vỏ bao cao su đã bị xé rách và 02 (hai) bao cao su chưa qua sử dụng, nhiều chủng loại khác nhau (tạm giữ trong quá trình khám xét) không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
  8. [7] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
  9. [8] Trong vụ án còn có nội dung:
  10. Đối với các trường hợp là người bán dâm trong vụ án mà Cơ quan điều tra đã chứng minh được bao gồm: Lê Thị B2, sinh năm 1990, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang và Lò Thị N, sinh năm 1999, trú tại bản Nà Út, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. Cả hai người đều khai nhận là nhân viên phục vụ tại Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H tại thôn N, xã Đ, huyện B do Hoàng Văn T làm chủ. Ngày 12/01/2025 là lần đầu tiên B2 và N thực hiện hành vi bán

    7

    dâm cho khách tại cơ sở H1 thông qua Hoàng Văn T. Hành vi bán dâm của Lê Thị B2 và Lò Thị N không cấu thành tội phạm, tuy nhiên phải được xem xét xử lý theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Cơ quan điều tra đã chuyển các tài liệu có liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B đề xem xét xử lý đối với B2 và N theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

    Ngày 20/3/2025, Trưởng phòng C Công an tỉnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41/QĐ-XPHC đối với Lò Thị N và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42/QĐ-XPHC đối với Lê Thị B2 về hành vi “Bán dâm” quy định tại khoản 1, Điều 25, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; mức phạt 350.000₫/01 người. Ngày 28/3/2025, Lò Thị N và Lê Thị B2 đã chấp hành xong các quyết định trên.

    Đối với các trường hợp là người mua dâm trong vụ án trên, Cơ quan điều tra đã chứng minh, làm rõ được gồm: Triệu La V, sinh năm 1982, trú tại tổ C, phường N, thành phố B và Hứa Lê B1, sinh năm 1959, trú tại thôn N, xã Q, huyện B. Các trường hợp trên đều khai nhận được mua dâm với gái bán dâm là nhân viên của quán tại Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H thông qua Hoàng Văn T vào tối ngày 12/01/2025. Hành vi mua dâm của Triệu La V và Hứa Lê B1 không cấu thành tội phạm, tuy nhiên phải được xem xét xử lý theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Cơ quan điều tra đã chuyển các tài liệu có liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xem xét xử lý đối với V và B1 theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

    Ngày 20/3/2025 Trưởng phòng Cảnh sát hình sự ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/QĐ-XPHC đối với Triệu La V và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC đối với Hứa Lê B1 về hành vi “Mua dâm" quy định tại khoản 1, Điều 24, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; mức phạt 1.250.000₫/01 người. Ngày 28/3/2025, Triệu La V và Hứa Lê B1 đã chấp hành xong các quyết định trên.

    Đối với các nhân viên của Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H bao gồm: Bàn Thị S, sinh năm 1983, trú tại thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Lường Thị B3, sinh năm 1993, trú tại bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu và Trần Thị T1, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Các trường hợp trên đều khai nhận là nhân viên của quán phục vụ phòng hát karaoke tại Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H do Hoàng Văn T làm chủ, quá trình làm việc T1 có được T bảo bán dâm cho khách nhưng T1 không đồng ý. Căn cứ kết quả xác minh, Cơ quan điều tra xác định S, B3 và T1 chưa từng bán dâm cho khách lần nào tại cơ sở nên không có căn cứ xử lý.

    Đối với Hoàng Thị B, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (là vợ của bị can). Chị B kết hôn với bị can Hoàng Văn T từ năm 2004, sau khi kết hôn Bé cùng bị can sinh sống tại thôn B, xã Đ, huyện B nhưng không sinh sống tại Cơ sở kinh doanh Karaoke - Nhà nghỉ H tại thôn N, xã Đ, huyện B. Chị B hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài từ tháng 10 năm 2023, nên không thể trông coi, quản lý và duy trì hoạt động kinh doanh của cơ sở,

    8

    không được thực hiện hành vi môi giới hoặc chứa mại dâm, cũng không biết và không được hưởng lợi ích từ hoạt động mại dâm tại cơ sở kinh doanh. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý đối với Hoàng Thị B là có căn cứ.

  11. [9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Chứa mại dâm”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 14/01/2025.

    Hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo T 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 1.000.000đ. (Một triệu đồng) tạm giữ của bị cáo T.
    • - Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà Nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình cảm ứng, có ốp lưng trong suốt, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0862.306.xxx (tạm giữ của Hoàng Văn T) (Sim gắn trong điện thoại tịch thu tiêu hủy).
    • - Trả cho Lò Thị N 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0325.769.xxx điện thoại thu giữ của Lò Thị N.
    • - Trả cho Lê Thị B2 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone, màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen, đã qua sử dụng. Bên trong có gắn sim số điện thoại 0365.339.xxx điện thoại thu giữ của Lê Thị B2.
    • - Tạm giữ 12.510.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T để đảm bảo thi hành án cho T.
    • - Trả cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) túi nhựa loại có cúc bấm, bên trong có 01 (một) giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ của Công an huyện B cấp cho ông Hoàng Văn T, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 8172774642, mã số đăng ký hộ kinh doanh số: 13B8001943; đăng ký lần đầu ngày 03 tháng 9 năm 2019, đăng ký thay đổi lần thứ: 1 ngày 09 tháng 10 năm 2023; tên hộ kinh doanh: HỘ KINH

      9

      DOANH HOÀNG VĂN THÂN; địa điểm kinh doanh: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn do Phòng tài chính - kế hoạch thuộc UBND huyện B cấp, 01 (một) giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 143/GCN do Công an huyện B cấp ngày 31/01/2024; họ tên người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh mang tên Hoàng Văn T, sinh năm 1985, nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; chức danh trong cơ sở kinh doanh: chủ cơ sở.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (túi) nilon màu trắng, bên trong có 08 (tám) bao cao su đã qua sử dụng và 08 (tám) vỏ bao cao su đã bị xé rách, nhiều chủng loại khác nhau (tạm giữ trong quá trình khám xét); 01 (túi) nilon màu trắng, bên trong có 02 (hai) bao cao su đã qua sử dụng, 02 (hai) vỏ bao cao su đã bị xé rách và 02 (hai) bao cao su chưa quả sử dụng, nhiều chủng loại khác nhau (tạm giữ trong quá trình khám xét).

    (Tình trạng, số lượng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐTK;
  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Bắc Kạn
  • - Phòng Hình sự CA tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HCTP;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Hưng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS - ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về chứa mại dâm

  • Số bản án: 24/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Th phạm tội “Chứa mại dâm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger