|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH - Bản án số 24/2025/HS-ST Ngày 19 - 3 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Xuân H, sinh năm 1974, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân H1 và bà Đặng Thị C; có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1973; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 22/12/2024 đến ngày 25/12/2024, thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 25/12/2024, hiện đang tại ngoại tại nơi thường trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đặng Danh T, sinh năm: 1983, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Danh T1 và bà Dương Thị M; có vợ là Vũ Thị Lệ T2, sinh năm 1984; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 22/12/2024 đến ngày 25/12/2024, thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 25/12/2024; hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Bùi Xuân H3, sinh năm: 1979, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu H, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Giáo viên Trường Tiểu học V1, thị xã Q; là Đảng viên Đ (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 137-QĐ/UBKTTU, ngày 18/3/2025 của Ủy ban kiểm tra thị ủy Q); trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Ngô Thị Hồng H4, sinh năm 1985; có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 22/12/2024 đến ngày 25/12/2024, thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 25/12/2024; hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Bùi Xuân H5, sinh năm 1980, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân H1 và bà Đặng Thị C; có vợ là Đàm Thị L, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 22/12/2024 đến ngày 25/12/2024, thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 25/12/2024; hiện đang tại ngoại tại nơi thường trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Ngọc H6, sinh năm 1967. Nơi thường trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Minh P1, sinh năm 1966. Nơi thường trú: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 22/12/2024 Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H, Bùi Xuân H5, Đặng Danh T đến ăn giỗ ở nhà thờ họ tại số nhà B thuộc khu D, phường Q, thị xã Q (do ông Bùi Ngọc H6, sinh năm 1967, trú tại khu D, phường Q, thị xã Q quản lý). Ngồi ăn uống một lúc ông H6 đi ngủ trước, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Bùi Xuân H rủ Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H5 đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền, cả hai đồng ý. Sau đó H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ (có 52 quân bài) có sẵn ở gian phòng khách của nhà thờ rồi cùng H3, H5 đánh bạc tại phòng khách. Khoảng 30 phút sau Đặng Danh T vào phòng và cũng tham gia đánh “liêng” cùng.
Hình thức đánh “liêng” được quy định như sau: Cả nhóm sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài (có thứ tự quân từ bé đến lớn như sau: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; mỗi quân bài có 4 chất khác nhau gồm: rô, cơ, bích, tép). Người chia bài sẽ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, người chia bài sẽ tiến hành đặt cược theo lượt ngược chiều kim đồng hồ. Khi đến lượt, người chơi sẽ có các lựa chọn: theo cược, cược thêm tiền hoặc bỏ bài; ván chơi kết thúc khi không có ai cược thêm hoặc theo cược. Nếu còn ít nhất hai người chơi theo cược thì tất cả sẽ hạ bài, bài của ai lớn nhất sẽ là người thắng. Cách so bài được tính theo thứ tự như sau: Sáp (có 03 quân bài giống nhau); L1 (có 03 quân bài liên tiếp nhau, không cần cùng chất); H7 (nếu 03 quân bài không phải sáp hoặc liêng nhưng cả 03 quân đều là đầu người); nếu không phải các bộ đặc biệt trên, người chơi sẽ cộng các quân bài để tính điểm (A = 1; 10, J, Q, K = 0), điểm lớn nhất là 9, nhỏ nhất là 0. Nếu người chơi bằng điểm nhau thì sẽ tính theo thứ tự chất rô, cơ, bích, tép. Người chơi thắng được chia ván mới và là người đặt cược đầu tiên. Bắt đầu mỗi ván chơi, người chơi sẽ phải đặt cược 20.000 đồng (là tiền cược cố định mỗi ván) còn tiền tố thêm mỗi ván không giới hạn.
Cả nhóm đánh bạc đến 16 giờ cùng ngày thì bị Công an thị xã Q bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 6.280.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 10 tấm thảm ghép xốp màu xanh.
Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận số tiền sử dụng để đánh bạc như sau: H5 sử dụng 800.000 đồng; H sử dụng 650.000 đồng; H3 sử dụng 830.000 đồng; T sử dụng 4.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H, Bùi Xuân H5, Đặng Danh T sử dụng để đánh bạc là 6.280.000 đồng.
Về vật chứng: Số tiền 6.280.000 đồng Cơ quan điều tra đã chuyển gửi Kho bạc Nhà nước thị xã Q theo quy định. Các vật chứng còn lại chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Cáo trạng số 1493/CT-VKSQY ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s (thêm điểm v đối với bị cáo H3) khoản 1 (thêm khoản 2 đối với bị cáo H3, T) Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H5, Đặng Danh T mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, về tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.280.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 10 tấm thảm ghép xốp màu xanh.
- - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như tóm tắt nội dung vụ án đã nêu và nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thấy ăn năn hối cải: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 22/12/2024 Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H, Bùi Xuân H5, Đặng Danh T đến ăn giỗ ở nhà thờ họ tại số nhà B thuộc khu D, phường Q, thị xã Q (do ông Bùi Ngọc H6, sinh năm 1967, trú tại khu D, phường Q, thị xã Q quản lý). Ngồi ăn uống một lúc ông H6 đi ngủ trước, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Bùi Xuân H rủ Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H5 đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền, cả hai đồng ý. Sau đó H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ (có 52 quân bài) có sẵn ở gian phòng khách của nhà thờ rồi cùng H3, H5 đánh bạc tại phòng khách. Khoảng 30 phút sau Đặng Danh T vào phòng và cũng tham gia đánh “liêng” cùng.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đã thấy ân hận về hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc H6 có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ: Ngày 22/12/2024 Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H, Bùi Xuân H5, Đặng Danh T đến ăn giỗ ở nhà thờ họ tại số nhà B thuộc khu D, phường Q, thị xã Q do ông Bùi Ngọc H6, sinh năm 1967, trú tại khu D, phường Q, thị xã Q quản lý, đến khoảng 13 giờ ông H6 đi ngủ trước nên không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà thờ họ do ông quản lý. Quá trình Công an bắt quả tang, thu giữ 10 tấm thảm ghép xốp màu xanh là của ông, ông thấy không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu nhận lại, còn 52 lá bài tú lơ khơ bị thu giữ ông không biết là của ai.
Người chứng kiến: Ông Hoàng Minh P1 có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ, khai phù hợp với nội dung sự việc như đã nêu trên và phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi các bị cáo đánh bạc sau đó bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Ngọc H6 và người chứng kiến, ông Hoàng Minh P1 có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa hôm nay. Các bị cáo khẳng định việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người đúng tội, không oan, sai. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ ngày 22/12/2024, tại số nhà B ở khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh do ông Bùi Ngọc H6 quản lý, Bùi Xuân H3, Bùi Xuân H, Bùi Xuân H5 và Đặng Danh T có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền thì bị Công an thị xã Q phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số tiền 6.280.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc cùng các vật chứng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
- - Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì ham chơi, hám lợi, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- - Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện tội phạm có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo H là người khởi xướng rủ các bị cáo cùng đánh bạc nên bị cáo giữ vai trò đầu; tiếp đó là các bị cáo H3, H5, T cùng tham gia đánh bạc nên có vai trò như nhau và chịu mức hình phạt sau bị cáo H.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo H3 năm 2011 được Chủ tịch UBND tỉnh Q tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua tỉnh Quảng Ninh “Giáo viên trưởng tiểu học P2, huyện Y”; năm 2012 được Ban tặng bằng khen “Giáo viên tổng phụ trách đội liên đội TH P - TX Q đã có thành tích xuất sắc trong công tác đội và phong trào thiếu nhi trường học năm học 2011-2012”; có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì chống Mỹ cứu nước nên còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo T có bố, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.1] Về hình phạt chính: Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo, cần có một hình tương xứng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 đánh bạc với số tiền không lớn, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa các bị cáo khai báo thu nhập có đủ điều kiện khả năng kinh tế để nộp tiền phạt, nên xét thấy áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ để răn đe đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Bùi Xuân H giữ vai trò đầu, đánh bạc với số tiền không lớn, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và giáo dục của gia đình, cũng đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội là phù hợp với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022 ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xét thấy không cần tiếp tục phải áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, đối với các bị cáo, do vậy hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh, của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo H3, H5, T được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; bị cáo H làm lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền 6.280.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- - Đối với 52 quân bài tú lơ khơ và 10 mảnh thảm ghép xốp mầu xanh thu giữ được sử dụng làm công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án: Quá trình điều tra xác định trước khi các bị cáo đánh bạc tại nhà thờ họ do ông Bùi Ngọc H6 quản lý, ông H6 đã đi ngủ trước và không biết các bị cáo đánh bạc, nên không xem xét xử lý.
[6] Về án phí: Các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; các khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội: “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Xuân H cho Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Gia đình bị cáo Bùi Xuân H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H5 phạm tội: “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Bùi Xuân H5 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Đặng Danh T phạm tội: “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Đặng Danh T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H3 phạm tội: “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Bùi Xuân H3 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ: điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú các số: 26, 27, 28, 29, ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh, các số:30, 31, 32, 33, ngày 25 tháng 02 năm 2025, của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đối với các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.280.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng);
- - Tịch thu tiêu hủy: 52 (Năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ và 10 (Mười) mảnh thảm ghép xốp mầu xanh.
(Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 53 vào hồi 14 giờ, 30 phút, ngày 24/02/2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Bùi Xuân H, Đặng Danh T, Bùi Xuân H3 và Bùi Xuân H5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 và khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Xuân Hòa cùng đồng phạm, phạm tội: “Đánh bạc’’
