Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 18/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu và ông Lưu Hữu Quyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 3 năm 2002, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: xóm Q, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1; Con bà: Nguyễn Thị T2; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Phan Mạnh H, sinh năm 1991; Địa chỉ: khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

2. Bà Lê Thị O, sinh năm 1951; Địa chỉ: khối C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Cao Tiến H1, sinh năm 1995; Địa chỉ: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1968; Địa chỉ: khối C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 02/10/2024 đến ngày 13/10/2024, do thiếu tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 25/9/2024, anh Phan Mạnh H đang bán điện thoại tại Cửa hàng số A đường L thuộc phường H, thành phố V thì Nguyễn Văn T đem 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng 128 GB đem đến bán cho anh H với giá 8.000.000 đồng. Sau khi xem máy anh H đồng ý mua và chuyển tiền vào tài khoản của T. Đến khoảng 15 giờ 40 phút ngày 02/10/2024, Nguyễn Văn T muốn chiếm đoạt lại chiếc điện thoại nên đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh biển số 35N1- 425.32 mượn của anh Lương Đình T3 quay lại cửa hàng của anh H, T dựng xe nổ máy để ngoài đường chờ sẵn và vào cửa hàng nói với anh H: “Cho em mượn lại chiếc điện thoại để lấy thông tin trong điện thoại”. Anh H lấy điện thoại đưa cho T, T cầm điện thoại giả vờ xem rồi bất ngờ bỏ chạy ra khỏi cửa hàng, lên xe tăng ga nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Nguyễn Văn T đi đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động HG Store địa chỉ số D, đường B thuộc phường B, thành phố V bán chiếc điện thoại vừa cướp giật được cho anh Cao Tiến H1 là chủ cửa hàng. Quá trình bán điện thoại, T nói với anh H1 chiếc điện thoại trên là của T, do tin tưởng nên anh H1 đồng ý mua với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) và thanh toán tiền cho T. Số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V triệu tập anh Cao Tiến H1 lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra anh H1 trình bày nội dung như đã nêu trên đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng 128 GB đã qua sử dụng để phục vụ điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành Trưng cầu định giá tài sản chiếc điện thoại trên. Tại kết luận định giá tài sản số 208/KL-ĐGTS ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng 128 GB, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 02/10/2024 là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 13/10/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh biển số 35N1- 425.32 đi trên các tuyến đường với mục đích tìm kiếm người dân sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực đường V khu đô thị H thuộc khối Y, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. T phát hiện bà Lê Thị N điều khiển xe máy chở chị gái là bà Lê Thị O ngồi sau. Trên vai trái bà O có đeo 01 túi xách da màu nâu, T liền điều khiển xe máy, áp sát từ phía sau bên trái xe máy của chị N rồi giật chiếc túi xách và nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Khi bị T giật túi xách thì chị N và bà O bị ngã xuống nền đường. Hậu quả: bà Lê Thị N bị rách bắp chân, còn bà Lê Thị O bị gãy xương cẳng tay phải phải đi sơ cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa thành phố V. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T đi đến khu vực đường H thuộc phường H, thành phố V kiểm tra tài sản bên trong túi xách thấy có 01 chiếc ví da màu tím chứa số tiền 1.750.000 đồng, T lấy toàn bộ số tiền rồi vứt ví và túi xách cùng giấy tờ tùy thân vào thùng rác bên đường và về phòng trọ tại đường H thuộc phường L, thành phố V. Số tiền cướp giật T tiêu xài hết. Đối với chiếc túi xách và chiếc ví da chứa số tiền của bà Lê Thị O do Nguyễn Văn T chiếm đoạt do đã cũ không còn giá trị sử dụng và không thu hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không trưng cầu định giá tài sản. Ngày 28/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của bà Lê Thị O và bà Lê Thị N.

Tại kết luận giám định số 663 ngày 03/12/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh N kết luận:

“1, Các kết quả chính:

  • - 1/3 dưới cẳng tay bên phải và bàn tay hiện tại còn sung nề nhẹ. Gãy đầu dưới xương quay cẳng tay bên phải đã điều trị nội khoa. Hiện tại không ảnh hưởng đến chức năng.
  • - Mông bên phải hiện tại không có dấu vết tổn thương, không để lại di chứng./.

2, Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị O tai thời điểm giám định là 08%(Tám phần trăm)”.

Tại kết luận giám định số 664 ngày 03/12/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh N kết luận:

“1, Các kết quả chính:

  • - Một sẹo vết thương phần mềm kheo chân bên phải, không ảnh hưởng đến chức năng.
  • - Đùi bên trái, cẳng chân bên trái, cánh tay bên phải và cẳng tay bên phải. Hiện tại không có dấu vết tổn thương, không để lại di chứng.

2, Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị N tai thời điểm giám định là 02%(Hai phần trăm)”.

Tại Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TPV ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2, điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, g khoản 2, điều 171; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 02/10/2024, tại tại khu vực Cửa hàng S đường L thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn T đã cướp giật của anh Phan Mạnh H 01 chiếc điện thoại Iphone 14 màu vàng 128GB trị giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), sau đó điều khiển xe máy Sirius màu trắng xanh biển số 35N1- 425.32 tẩu thoát, rồi đem bán lấy tiền tiêu xài. Hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/10/2024, tại khu vực đường V khu đô thị H thuộc khối Y, phường T, thành phố V, Tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn T điều khiển xe máy Sirius màu trắng xanh biển số 35N1- 425.32 cướp giật của bà Lê Thị O 01 chiếc túi xách trong đó có số tiền 1.750.000 đồng.

Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản". Bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội và phạm tội đối với người già yếu nên vi phạm quy định tại điểm d, g khoản 2, điều 171 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố là đúng pháp luật.

[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tác động gia đình bồi thường dân sự; Quá trình học tập, bị cáo nhiều năm đạt học sinh giỏi, đạt thành tích xuất sắc cấp huyện, đạt giải khuyến khích trong kỳ thi cấp tỉnh và đã được nhà trường, phòng giáo dục và đào tạo và chủ tịch ủy ban huyện T5 nhiều giấy khen; Sau khi phạm tội ra đầu thú; Gia đình có công với nhà nước được thưởng huân huy chương; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt... nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[2.3]. Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[2.4]. Về bồi thường dân sự: Bị hại là bà Lê Thị O đã nhận lại số tiền 1.750.000 đồng bị cướp giật và bồi thường sức khỏe 5.000.000 đồng. Bà Lê Thị N được gia đình Nguyễn Văn T bồi thường sức khỏe số tiền 8.000.000 đồng. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Cao Tiến H1 đã được gia đình Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 8.000.000 đồng. Hiện nay, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự nên miễn xét.

[2.5]. Về vật chứng: 01 áo khoác nắng màu ghi; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen và 01 đôi dép màu đen thu giữ của Nguyễn Văn T hiện nay không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng 128GB thu giữ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Phan Mạnh H;

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh biển số 35N1- 425.32, thuộc sở hữu của anh Lương Đình T3, sinh năm 1995 trú tại thôn Đ, xã Y, huyện N, Thanh Hóa. Do anh T3 không biết việc Nguyễn Văn T mượn xe của chị mình đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe cho anh T3.

[2.6]. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d, g khoản 2, điều 171; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 54 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn T 27(Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác nắng màu ghi; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen và 01 đôi dép màu đen thu giữ của Nguyễn Văn T(Vật chứng hiện có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2025/84 ngày 21/01/2025).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS, CATP, THADS TP. Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Huy Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger