Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 17/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Các hội thẩm nhân dân:Bà Lò Thị Khánh Quốc
Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Bùi Đình M, sinh năm 1970 tại tỉnh Thanh Hóa. HKTT: Thôn Ứ, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện tại: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Bùi Đình T (đã chết) và bà Hoàng Thị T1 (đã chết). Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị B; có 02 con, con lớn sinh năm 2006; con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024 đến ngày 19/3/2025. Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

2. Hà Văn C, sinh năm 1966 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Hà Văn Đ (đã chết) và bà Hoàng Thị H (đã chết). Bị cáo có vợ là Lê Thị S; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989; con nhỏ nhất sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan:

  • + Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1982; Bà Bùi Thị X, sinh năm 1986. Cùng cư trú tại: Xóm H, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)

  • + Anh Bùi Văn X1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm H, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)

  • + Ông Bàn Tiến H2, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)

  • + Ông Hà Văn B1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

  • + Anh Hà Anh T2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

  • + Ông Bùi Đình T3, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 9 năm 2024, Bùi Đình M gặp Hà Văn C để rủ cùng đi khai thác vàng trái phép (do M biết C có khả năng tách chiết vàng). M bảo sẽ lo tìm địa điểm khai thác vàng, còn C sẽ gọi người biết làm vàng và quản lý, chỉ đạo họ làm vàng, tiền công Minh sẽ trả. M hứa sẽ trả công cho C số tiền 15.000.000₫ – 20.000.000đ/tháng và sẽ trả thêm nếu khai thác được vàng, Hà Văn C đồng ý.

M chọn địa điểm khai thác vàng trái phép thuộc khu rừng thuộc xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Ngày 30/10/2024, M cùng C đi đến gặp ông Đinh Văn H1, sinh năm 1982 và vợ là Bùi Thị X, sinh năm 1986 (cùng trú tại xóm H, xã V, huyện T). Tại nhà ông H1, M và C đặt vấn đề nhờ bà X mua đồ ăn, đồ dùng sinh hoạt và thuê bà X vận chuyển cùng công cụ, phương tiện phục vụ việc khai thác vàng đến địa điểm khai thác với giá tiền 70.000đ/yến đồ đạc. M và C cũng đặt vấn đề thuê ông H1 đào đất tại địa điểm khai thác với giá 8.000.000đ/tháng, đồng thời nhờ ông H1 gọi thêm người cùng thuê đào đất. Ông H1 gọi thêm Bùi Văn X1, C đặt vấn đề thuê Xoài đào đất, ông H1, bà X và X1 đều đồng ý.

Đến trưa ngày 31/10/2024, C, M, H1, X1 đi bộ từ nhà H1 đến khu vực khai thác vàng, bà X vận chuyển thực phẩm đi cùng. Đến khoảng 17h cùng ngày thì đến vị trí khai thác vàng tại khu rừng thuộc xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình làm lán trại để ăn, ngủ. Ngày hôm sau, C đi xuống hang đất cũ của người làm vàng trước đào để xem, dựa vào kinh nghiệm làm vàng nên C biết đất trong hang có chứa vàng nên đã gọi điện thoại cho người bán hóa chất các loại hóa chất phục vụ việc làm vàng, tổng tiền hết khoảng 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Bùi Đình M về Hà Nội mua các công cụ, phương tiện phục vụ cho việc khai thác vàng trái phép gồm: 01 Máy phát điện chạy bằng xăng màu vàng, 03 máy bơm nước. Tất cả số hóa chất, công cụ, máy móc được chở đến nhà ông Đinh Văn H1 và được bà X cùng một số người vận chuyển lên địa điểm khai thác vàng trái phép. M và C phân công H1, X1 có nhiệm vụ đào hố, đào đất trong hang ra ngoài đổ vào hố; C có nhiệm vụ tách chiết vàng ra khỏi đất, M giám sát việc khai thác vàng. Do có ít người tham gia nên M, C gọi thuê thêm Bàn Tiến H2, Hà Anh T2, Trần Quốc L thực hiện việc đào đất và thỏa thuận sẽ trả công 8.000.000đ/tháng, những người này đều đồng ý.

Để thực hiện việc tách chiết vàng, khi đất được đào lên được đổ vào 02 hố chứa để ủ, trong đó 01 hố có kích thước: dài 5,8m, rộng 3,1m, sâu 1,1m, thành hố tiếp giáp với một hố thải nước diện 1,0x0,8m; 01 hố có kích thước dài 4,9m, rộng 2,8m, sâu 1,1m, thành hố tiếp giáp với một hố thải nước diện 1,0x0,8m. Khi mỗi hố được khoảng 05 mét khối đất thì C bơm nước đã được pha với hỗn hợp hóa chất theo tỷ lệ do C tự tính toán. Khi nước được bơm đầy ngập phần đất ủ trong hố C mở van đường ống nước để nước trôi xuống xô nhựa có chứa nguyên tố K (Zn) bên trong xô để giữ lại vàng, nước tiếp tục chảy xuống hố chứa nước thải phía dưới có lót bạt để giữ nước tránh ngấm vào đất, sau đó dùng máy bơm để bơm nước từ hố chứa nước lên hố ủ đất. Quy trình tách chiết vàng được lặp đi lặp lại trong khoảng 07 đến 08 ngày khi thấy kẽm chuyển từ màu đen sang màu trắng thì C vớt kẽm trong xô nhựa ra và đốt thành hợp chất dạng bột gồm có kẽm (Z) và vàng (Au).

Việc khai thác vàng diễn ra liên tục từ ngày 03/11/2024 đến ngày 17/11/2024, đến ngày 16/11/2024 T2 trở về nhà không làm nữa. Chiều ngày 17/11/2024 C cùng M cầm 08 gói nilon đựng hỗn hợp bột Vàng và K đi đến nhà anh trai ruột của M là Bùi Đình T3. Tại nhà T3, C đã tách được 08 viên kim loại vàng có trọng lượng 1,9 (một phẩy chín) lượng. Trưa 18/11/2024, C đến cửa hàng V gặp ông Trần Minh K1 – chủ cửa hàng và bán số vàng trên được tổng cộng 152.000.000đ (một trăm năm mươi hai triệu đồng), số tiền này C đưa hết cho M. Sau đó, M đưa lại cho C số tiền 200.000.000đ (bao gồm 152.000.000đ bán vàng và 48.000.000đ của M để chi trả chi phí phục vụ việc khai thác vàng trái phép, tiền công thuê đào đất). Sau đó C đã thanh toán các khoản chi phí liên quan như đã thống nhất với M và tiếp tục cùng M, H1, X1, Ba, H2, L quay trở lại địa điểm khai thác vàng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/11/2024 thì bị tổ công tác của Công an huyện M phát hiện, lập biên bản. Quá trình lập biên bản, C và L đã bỏ chạy khỏi hiện trường, Bùi Đình M đầu thú về hành vi đã khai thác được vàng tại địa điểm bị bắt giữ và thu lời bất chính từ việc bán số vàng trên. Đến ngày 22/01/2025, Hà Văn C đã đến Cơ quan công an đầu thú về hành vi cùng Bùi Đình M khai thác vàng trái phép tại xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình.

Tại kết luận giám định GĐ/02-2025 ngày 21/01/2025 của Trung tâm Phân tích và Kiểm định địa chất – Cục Đ1 kết luận: “Mẫu được giám định có chứa vàng, trong đó mẫu M1 (là mẫu đất thu tại hang mà các đối tượng đang đào đất khi bị phát hiện vào ngày 22/11/2024) có hàm lượng vàng (Au) = 3,0 g/t; mẫu M2 (là mẫu đất thu tại hang đất ở khu vực cạnh địa điểm các đối tượng đang đào đất khi bị phát hiện vào ngày 22/11/2024) có hàm lượng vàng (Au) = 5,6 g/t”.

Cáo trạng số 27/CT-VKSHB-P1 ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Đình M, Hà Văn C về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Bùi Đình M, Hà Văn C phạm tội Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên. Xử phạt Bùi Đình M từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo Xử phạt Hà Văn C 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an tỉnh H; của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đình M, Hà Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bùi Đình M, Hà Văn C là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản. M và C đã bàn bạc, thống nhất, thuê người, mua công cụ, máy móc và cùng thực hiện hành vi khai thác vàng trái phép tại xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình từ ngày 03/11/2024 đến ngày 22/11/2024 và thu lời bất chính số tiền 152.000.000đ (một trăm năm mươi hai triệu đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý tài nguyên của Nhà nước dược pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, các bị cáo biết rõ việc khai thác tài nguyên trái phép là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời nên vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại diểm a khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, Bùi Đình M là người chủ mưu, khởi xướng, tìm địa điểm, tìm mua công cụ, rủ bị cáo C cùng thực hiện hành vi khai thác vàng trái phép, bị cáo cũng là người thuê và trả công cho thợ đào đất, nên bị cáo là người có vai trò chính trong vụ án, phải chịu hình phạt nặng hơn. Bị cáo C là đồng phạm với vai trò là người thực hành, cùng thuê nhân công, giám sát, quản lý nhân công khai thác vàng trái phép và là người trực tiếp thực hiện việc tách chiết vàng, bị cáo C phải chịu hình phạt tương ứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • - Bị cáo Bùi Đình M đã đầu thú; gia đình các bị cáo đã nộp tiền khắc phục toàn bộ số tiền 152.000.000đ thu lời bất chính, bị cáo có bố là Bùi Đình T được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; có anh trai là ông Bùi Đình K2 là thương binh, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • - Bị cáo Hà Văn C đã đầu thú; gia đình các bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền thu lời bất chính, bị cáo có chú ruột là Hà Văn H3 là liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng các bị các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo

[4] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, ông Bùi Đình T3 là người nhà của bị cáo Bùi Đình M đã nộp số tiền 152.000.000đ khắc phục toàn bộ số tiền thu lời bất chính cho các bị cáo. Ông T3 tự nguyện nộp số tiền trên và không yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm hoàn trả.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) máy bơm nước, loại thả chìm, chạy bằng điện, công suất 01 (HP), do công ty TNHH Đ2 sản xuất, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng, lưỡi bằng kim loại, thân tay cầm bằng gỗ, dài 101cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng, lưỡi bằng kim loại, thân tay cầm bằng gỗ, dài 146cm, đã qua sử dụng; 01 (một) máy bơm nước, chạy bằng xăng, nhãn hiệu SAIKA GX100, Công suất 2.5 (HP), màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) xe cút kít (xe rùa), bằng kim loại, hai tay cầm phí sau bọc nhựa, một bánh xe ở phía dưới có lốp bằng cao su, hai chân chống bằng kim loại, thùng xe có kích thức 75x63x20 (cm), đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc phễu, bằng kim loại, hình nón, đường kính 42 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) máy tời đất, chạy bằng điện, dây bằng kim loại, kích thước 40x60 (cm), đã qua sử dụng; 01 (một) máy bơm nước, chạy bằng xăng, nhãn hiệu SHIRUKU, công suất 2.5 (HP), màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) máy phát điện, chạy bằng xăng, nhãn hiệu JET POWER 4500, công suất 3.1 (kw), màu đỏ đen, kích thước 61x44x44 (cm), đã qua sử dụng; 01(một) cân cầm tay, chạy bằng pin, màu đen, trên nắp gập in chữ màu trắng “POCKET SCALE”, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ hàn cắt gas-oxy (cắt gió đá), gồm bộ dây đôi: màu xanh dài 550 cm, màu cam dài 45 cm, nối với 01 van an toàn và 01 tay hàn bằng kim loại, đã qua sử dụng. Xét thấy đây đều là các máy móc, công cụ các bị cáo dùng để thực hiện việc khai thác, tách chiết vàng trái phép nên cần tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) bát sứ, đường kính 13 cm, bên trong bát có bám xỉ than màu đen, đã nứt vỡ; đây là công cụ bị cáo C dùng để tách chiết vàng, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Đình M. Xét thấy, bị cáo M đã dùng chiếc điện thoại này để gọi thuê nhân công đào đất phục vụ cho việc khai thác vàng trái phép nên cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách.

Đối với số tiền 152.000.000đ, các bị cáo đã nộp khắc phục số tiền thu lời bất chính, cần sung vào ngân sách.

[6] Các vấn đề khác: Đối với các cá nhân được thuê đào đất, vác đồ dùng phục vụ việc khai thác vàng trái phép gồm Hà Văn B1, Đinh Văn H1, Bùi Văn X1, Bàn Tiến H2, Hà Anh T2, Trần Quốc L, Bùi Thị X. Kết quả điều tra xác định những người trên không được tham gia bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất về việc khai thác vàng trái phép, không được hưởng lợi từ số tiền có được từ việc bán vàng khai thác trái phép, không biết việc khai thác vàng chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét, xử lý hình sự trong vụ án này.

Đối với Bùi Đình T3 là người cùng Hà Văn C đi bán số vàng có được từ việc khai thác vàng trái phép. Quá trình điều tra xác định Bùi Đình T3 không được bàn bạc, thỏa thuận về việc khai thác vàng trái phép tại xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình, không được hưởng lợi từ số tiền có được từ việc bán vàng khai thác trái phép, không biết rõ nguồn gốc số vàng trên từ đâu mà có. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét, xử lý hình sự trong vụ án này.

Đối với Trần Minh K1 là chủ tiệm V1, là người mua 1,9 (Một phẩy chín) lượng vàng mà Bùi Đình T3, Hà Văn C đem đến bán. Quá trình điều tra xác định Trần Minh K1 không được tham gia, bàn bạc việc khai thác vàng trái phép tại xóm N, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình, không biết rõ nguồn gốc số vàng trên từ đâu mà có. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét, xử lý hình sự trong vụ án này. Sau khi mua được số vàng trên, Trần Minh K1 đã bán cho người mua vàng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không giữ được số vàng Hà Văn C mang bán nên không xem xét trong vụ án này.

Đối với người bán hóa chất cho Hà Văn C phục vụ việc khai thác vàng trái phép. Hà Văn C khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ người bán. Mặt khác, xét thấy các hóa chất trên không phải là chất cấm lưu thông, buôn bán trên thị trường, Hà Văn C khai đã làm mất điện thoại di dộng để liên lạc với người trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với cá nhân trên.

Đối với người bán công cụ, máy móc cho Bùi Đình M phục vụ việc khai thác vàng trái phép. Bùi Đình M khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ người bán. Mặt khác, xét thấy chỉ là công cụ, máy móc thông thường nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với cá nhân trên.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Đình M, Hà Văn C phạm tội Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên

  2. Xử phạt:

    • - Bị cáo Bùi Đinh M1 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/6/2025).

    • - Bị cáo Hà Văn C 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/6/2025).

    Giao bị cáo Bùi Đình M cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Hà Văn C cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo Bùi Đình M, Hà Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu phát mại sung vào ngân sách đối với: 01 (một) máy bơm nước, loại thả chìm, chạy bằng điện, công suất 01 (HP), do công ty TNHH Đ2 sản xuất, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng, lưỡi bằng kim loại, thân tay cầm bằng gỗ, dài 101cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xẻng, lưỡi bằng kim loại, thân tay cầm bằng gỗ, dài 146cm, đã qua sử dụng; 01 (một) máy bơm nước, chạy bằng xăng, nhãn hiệu SAIKA GX100, Công suất 2.5 (HP), màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) xe cút kít (xe rùa), bằng kim loại, hai tay cầm phí sau bọc nhựa, một bánh xe ở phía dưới có lốp bằng cao su, hai chân chống bằng kim loại, thùng xe có kích thước 75x63x20 (cm), đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc phễu, bằng kim loại, hình nón, đường kính 42 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) máy tời đất, chạy bằng điện, dây bằng kim loại, kích thước 40x60 (cm), đã qua sử dụng; 01 (một) máy bơm nước, chạy bằng xăng, nhãn hiệu SHIRUKU, công suất 2.5 (HP), màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) máy phát điện, chạy bằng xăng, nhãn hiệu JET POWER 4500, công suất 3.1 (kw), màu đỏ đen, kích thước 61x44x44 (cm), đã qua sử dụng; 01(một) cân cầm tay, chạy bằng pin, màu đen, trên nắp gập in chữ màu trắng “POCKET SCALE”, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ hàn cắt gas-oxy (cắt gió đá), gồm bộ dây đôi: màu xanh dài 550 cm, màu cam dài 45 cm, nối với 01 van an toàn và 01 tay hàn bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Đình M.

    Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) bát sứ, đường kính 13 cm, bên trong bát có bám xỉ than màu đen, đã nứt vỡ

    Sung vào ngân sách đối với số tiền 152.000.000đ các bị cáo đã nộp khắc phục số tiền thu lời bất chính, theo biên lai thu tiền số 0002769 ngày 19/5/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.

    (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 28/BB-GNVC ngày 16/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hòa Bình).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Bùi Đình M, Hà Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Hòa Bình;
  • - CQCSĐT; THAHS CA tỉnh Hòa Bình;
  • - Các Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội
  • - UBND xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
  • - Lưu H/S, THAHS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điều 227
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger