Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Văn Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Thu An
Bà Trịnh Thị Bình

Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ TRỌNG Đ, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; HKTT: Áp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở: Ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Trọng N và bà Lê Thị H; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lâm Thị T, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Nhỉ Â, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Đường D, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trọng Đ có vợ là Lâm Thị Kim T1, sinh năm 1997, nơi thường trú: Ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước mới sinh con nhỏ nên Đ đến phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước tìm việc làm để tiện chăm lo cho vợ và con nhỏ.

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/10/2024, Lê Trọng Đ đến Văn phòng Công ty C thuộc phường M, thị xã C để xin việc làm. Tại đây, Đ gặp chị Lâm Thị T, sinh năm 2000, nơi cư trú tại tổ B, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước là người cùng đi xin việc, nên cả hai nói chuyện và quen biết nhau. Khoảng gần 07 giờ cùng ngày, sau khi cả hai phỏng vấn và được nhận vào làm công nhân thời vụ, nên Công ty C yêu cầu những người đã phòng vấn đạt (trong đó có Đ và T) đến Công ty L thuộc khu Công nghiệp B địa chỉ: Khu phố E, phường M, thị xã C để phỏng vấn lần 2 và nhận việc làm. Do không có phương tiện đi đến Công ty L nên Đ nhờ chị T chở đi, thì chị T đồng ý. Lúc này, chị T giao xe mô tô hiệu Honda, loại Vison, màu nâu-đỏ, biển số 93C1-451.30, chìa khóa để trong túi áo khoác cất trong cốp xe cho Đ điều khiển chở chị T đến Công ty L. Đến nơi, chị T nhờ Đ mang xe vào khu vực để xe phía trước cổng Công ty gửi. Khi gửi xe xong, Đ lấy thẻ gửi xe bỏ vào túi quần cất giữ, rồi cả 2 cùng vào Công ty phỏng vấn. Do tin tưởng nên chị T không hỏi thẻ xe mà để Đ cầm, cả hai cùng xếp hàng trước cổng công ty chờ đến lượt để phỏng vấn.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, sau khi phỏng vấn, Đ và T được vào làm tại Công ty L, Đ và chị T làm chung bộ phận nhưng khác vị trí. Làm việc được khoảng 15 phút, do không có tiền tiêu xài cá nhân, tiền mua sữa cho con và sẵn đang giữ thẻ xe của chị T nên Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 93C1-451.30 của chị T, mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này, Đ nói dối với những người làm chung là đi lấy khẩu trang rồi vào làm nhưng thực tế là Đ ra nơi gửi xe, lấy xe của chị T điều khiển đến Cổng khu Công nghiệp B, tỉnh Bình Dương tìm người để bán. Đ điều khiển xe đến gần Cầu vượt trên đường H thuộc phường T, thị xã C, Đ dừng xe vào lề dường, lên mạng xã hội Facebook tìm người mua xe mô tô không giấy Chứng nhận đăng ký xe để bán. Qua tìm kiếm trên Facebook Đ phát hiện Lê Nhỉ Â, sinh năm 2004, nơi thường trú: Ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Chỗ ở: Đường D, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương) là người mua, bán xe mô tô cũ và có để lại số điện thoại trên trang cá nhân. Đ dùng số điện thoại "0349.630.xxx" của mình gọi vào số 0366.333.664 của  để nói chuyện về việc Đ muốn bán xe, thì  gửi vị trí G qua mạng xã hội Z và hẹn gặp Đ tại trước nhà nghỉ "Hoa P", địa chỉ: Tổ H, khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương để xem xe và thỏa thuận mua bán, thì Đ đồng ý. Sau khi xem xe,  hỏi giấy tờ xe thì Đ nói dối với  là xe mô tô biển số 93C1 - 451.30 của Đ, bị mất giấy tờ và viết giấy tay cam kết với  là xe không bị tranh chấp (giấy do  viết để cho Đ ký tên). Tin tưởng,  đồng ý mua xe mô tô biển số 93C1 - 451.30 của Đ với giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) thì Đ đồng ý bán,  trả tiền bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 58.85.666.666.6666 với tên LE NHI AN của Ngân hàng T2 chuyển số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) qua số tài khoản 1039379034 của ngân hàng V, tên LE TRONG DAT dung: LE NHI AN chuyển tiền mua xe Vision 93C1 - 451.30. Nhận được tiền, Đ giao xe mô tô biển số 93C1-451.30 và ký giấy viết tay mua bán xe cho Â. Khi bán xe xong, Đ đã chặn liên hệ (cuộc gọi) với nhân viên công ty C, chặn số điện thoại của chị T và xóa hết thông tin liên quan đến việc mua bán xe với Lê Nhỉ  trong điện thoại của Đ, rồi bắt xe ô tô khách đến khu Công nghiệp S thuộc xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước, số tiền 7.000.000 đồng có được từ việc bán xe mô tô của chị T thì Đ sử dụng trả nợ và tiêu xài hết (mua sữa cho con). Khoảng 11 giờ ngày 15/10/2024 sau khi làm việc xong chị T ra xe lấy đồ thì phát hiện mất xe và có gọi điện cho Đ nhưng không được.

Đến ngày 15/11/2024, chị T đến Công an phường M để trình báo nội dung sự việc trên. Qua xác minh đến ngày 19/11/2024, Công an phường M phối hợp Công an thị xã C đã bắt giữ Đ và thu giữ toàn bộ vật chứng của vụ án. Tại Cơ quan điều tra, Lê Trọng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 65/KLĐG-HĐĐGTS ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C xác định trị giá xe mô tô hiệu Honda, loại Vision màu đỏ đen, biển số 93C1-451.30, số máy: JK03E6224563; số khung: RLHJK0342PZ413041 của chị Lâm Thị T tại thời điểm bị chiếm đoạt là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số 31/CT-VKSCT, ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Trọng Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Trọng Đ và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trọng Đ mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lâm Thị T đã nhận lại tài sản; Anh Lê Nhỉ Â được bị cáo và gia đình trả lại số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) là tiền mua xe nên không yêu cầu gì thêm.

Đề nghị xử lý vật chứng theo qui định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và xin lỗi bị hại. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Lâm Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Nhỉ Â có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/10/2024, Lê Trọng Đ có hành vi lợi dụng sự tin tưởng của chị Lâm Thị T giao quản lý xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu Đ, biển số 93C1-451.30, trị giá 25.000.000 đồng tại khu phố E, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, sau đó chiếm đoạt mang đi bán cho Lê Nhỉ Â rồi bỏ trốn. Hành vi do Lê Trọng Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 31/CT-VKSCT, ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã đủ tuổi và có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Chị Lâm Thị T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Lê Nhỉ  đã được bị cáo và gia đình trả lại số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) là tiền mua xe nên anh  không yêu cầu bồi thường gì khác. Chị T và anh  không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vision màu đỏ đen xe mô tô biển số 93C1-451.30, số máy: JK03E6224563; số khung: RLHJK0342PZ413041 là tài sản hợp pháp của chị T nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho bị cáo nên HĐXX không xem xét.

[6]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lê Trọng Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày 19/11/2024.

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Trọng Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu An - Trịnh Thị Bình

Võ Văn Vân

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng Đ ạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger