Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 15 - 04 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Trúc Chi – Bí thư Thị đoàn thị xã Phước Long

Bà Trần Thị Tuyết – Phó Trưởng phòng GD & ĐT thị xã Phước Long

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chính Đ (tên gọi khác: B), sinh ngày 18/10/2005; tại tỉnh Bình Phước;

Nơi thường trú: Khu phố F, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng D và bà Lê Thị Y; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức D1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/8/2007; tại tỉnh Bình Phước;

Nơi thường trú: Đ, thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà (không nhớ, đã chết); Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Đức D1: Ông Nguyễn Văn T; địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là cậu ruột. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức D1: Ông Đặng Thái H– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Vũ Quang H1, sinh ngày 14/10/2009

Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Thành L, sinh năm 1989 (cha ruột)

Nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 26/3/2007

Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Nguyễn Trọng K, sinh ngày 18/01/2007.

Nơi cư trú: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

(Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Trọng K vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

Hồ Khắc H2, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Trần Đình T1, sinh năm 1950

Nơi cư trú: Khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Nguyễn Thị H3, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Nguyễn Việt T2, sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Phạm Minh C, sinh năm 1958

Nơi cư trú: Khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

(Tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 19/08/2024, Nguyễn Trọng K, sinh ngày 18/01/2007, điều khiển xe mô tô chở theo Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 26/03/2007, ghé vào cây xăng Đ1 thuộc khu phố D, phường L, thị xã P để đổ xăng. Sau khi đổ xăng xong do xe không nổ máy nên K và V đẩy xe chạy vòng cây xăng cho máy nổ. Lúc này Nguyễn Chính Đ (Đ, D1 và K có mâu thuẫn từ trước) chở theo Vũ Quang H1 và Nguyễn Đức D1, nhìn thấy K nên đi vào cây xăng và chặn đầu xe của K lại. Sau khi gặp K, H1 xuống xe giật tay K, thấy vậy K bỏ chạy. Đ thò tay vào trong túi đeo phía trước lấy 01 gậy ba khúc đuổi đánh K, còn H1 đuổi đánh V còn D1 ở lại giữ xe. Đại đuổi K khoảng 20m thì K chạy đến chân bờ tường rào của cây xăng, K không biết trước mặt là vực cao nên đã nhảy xuống vực phía sau cây xăng tự gây thương thương tích cho mình (Thương tích của K là 20%). Còn H1 đuổi V chạy vào nhà bếp của cây xăng, khi vào bếp, V lấy dao ra chống trả nên H1 bỏ chạy ra ngoài. Sau đó Đ điều khiển xe chở H1 và D1 chạy về hướng thành phố Đ, tỉnh Bình Phước bỏ trốn. V chở K đi cấp cứu.

Đến ngày 23/08/2024, Nguyễn Chính Đ, Vũ Quang H1 và Nguyễn Đức D1 đến Công an phường L, thị xã P, Bình Phước khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng của mình.

Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã P khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi”; “Đầu thú, phạm tội lần đầu” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức D1 được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại các Điều Chương XII Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chính Đại T3 02 năm 06 sáu tháng đến 03 năm tù giam. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 58, 65, 90, 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 đến 05 năm.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao, mũi nhọn, gồm phần cán và phần lưỡi; phần lưỡi sắc bén kích thước (30x6)cm; phần cán bằng gỗ kích thước (14,8x3)cm. Đối với 01 con dao trên không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại mà Nguyễn Chính Đ dùng để đuổi đánh Nguyễn trọng K. Sau khi gây án Nguyễn Chính Đ đã đưa cho Nguyễn Đức D1 vứt đi ở ven đường. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy tìm được nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị can và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng K đã tự thỏa thuận và không có yêu cầu gì nên không đề cập xử lý.

Ý kiến Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức D1: Đồng ý với tội danh đại diện Viện kiểm sát truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Về hình phạt: Bị cáo D1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên suy nghĩ còn nông cạn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Bộ luật hình sự. Do bị cáo D1 có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt bị cáo 22 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách quy định Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa đổi trở thành người có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, rất hối hận nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn với Nguyễn Trọng K từ trước nên khoảng 18 giờ ngày 19/8/2024, tại cây xăng Đ1 thuộc khu phố D, phường L, thị xã P, Nguyễn Chính Đ, Vũ Quang H1 và Nguyễn Đức D1 đã có hành vi dùng hung khí truy đuổi K và V, để tránh sự truy đuổi K bỏ chạy và tự nhảy xuống vực tự gây thương tích cho bản thân. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, an toàn công cộng, các sinh hoạt, đi lại nơi công cộng gây hậu quả nghiêm trọng. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo dùng hung khí là cây gậy ba khúc bằng kim loại nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Đây là vụ án đồng phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc cụ thể về kế hoạch phạm tội, không phân công nhiệm vụ, chỉ đạo rõ ràng, chỉ cùng nhau tiếp nhận ý chí để thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Đ có vai trò tích cực nhất, là người khởi xướng, trực tiếp cầm hung khí đuổi đánh K tại khu vực Cây xăng nên cần xử mức hình phạt thật nghiêm, cao hơn bị cáo D1 mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo D1 có vai trò giúp sức, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình, xử phạt mức án phù hợp nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi”; “Đầu thú, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự” quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo D1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội khi dưới 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ sức răn đe đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

01 Con dao, mũi nhọn, gồm phần cán và phần lưỡi; phần lưỡi sắc bén kích thước (30x6)cm; phần cán bằng gỗ kích thước (14,8x3)cm là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại mà Nguyễn Chính Đ dùng để đuổi đánh Nguyễn trọng K. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy tìm được nên không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xử lý.

[8] Đối với hành vi của Vũ Quang H1 sinh ngày 14/10/2009 tính đến thời điểm phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, Bình Phước bàn giao hồ sơ cho địa phương xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.

[9] Đối với quan điểm của Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo D1 về hình phạt là phù hợp quy định nên được ghi nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chính Đ (B2), Nguyễn Đức D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; các Điều 17, 38, 50; 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chính Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; các Điều 17, 50; 58; 65, 90; 91; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/4/2025).

Quyết định trả tự do bị cáo D1 tại phiên toà.

Giao bị cáo Nguyễn Đức D1 về Ủy ban nhân dân phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Con dao, đặc điểm mũi nhọn, gồm phần cán và phần lưỡi; phần lưỡi sắc bén kích thước (30x6)cm; phần cán bằng gỗ kích thước (14,8x3)cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0003911 ngày 21/3/2025 giữa Công an tỉnh B với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long).

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Các Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo D1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chính Đại cùng đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger