Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 15 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hồng;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1976 tại Chợ M, An Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Trần Thị G; anh, chị em ruột có 09 người; chồng là Nguyễn Thành T, con có 04 người.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2024 đến ngày 08/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2024 cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Hùng T1 - Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh A.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Thanh H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang;
  • Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang;
  • Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang;
  • Bà Trần Thị Q, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Người chứng kiến:

  • Ông Lê Ngọc H3, sinh năm 1988;
  • Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1989.

Tại phiên tòa ông Trần Thanh H, bà Nguyễn Thị Kim H1 có mặt. Riêng bà Nguyễn Thị H2, bà Trần Thị Q, ông Lê Ngọc H3 và ông Nguyễn Văn P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/11/2024, Công an huyện A phối hợp Tổ công tác Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh A, Đồn Biên phòng cửa khẩu L1 và Đ Đặc nhiệm phòng chống ma tuý và tội phạm miền N tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã K. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ công tác phát hiện Trần Thanh H điều kiển xe ô tô tải biển kiểm soát 67C-079.73 chở Lê Thị Tuyết N di chuyển trên tuyến Quốc lộ I từ hướng xã K đi xã Q, huyện A có biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bên trong thùng xe tải có 03 thùng giấy carton và 02 bao tải màu trắng. Kiểm tra bên trong 03 thùng carton có 47 hợp giấy có kích thước 27cm x 27cm x 7cm, bên trong có chứa các ống giấy màu đỏ hình trụ tròn dài 3,3cm, đường kính 0,7cm liên kết với nhau thành tràng; kiểm tra bên trong 02 bao tải màu trắng có chứa 239 túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh nghi là pháo nổ. Quá trình làm việc, N khai nhận tất cả tang vật bị phát hiện, thu giữ trên đều là pháo nổ, được người phụ nữ tên N1 (không rõ họ tên, địa chỉ) thuê N vận chuyển từ xã K, huyện A mang về nhà của N tại ấp T, xã T, huyện C cất giữ và hứa sẽ trả tiền công vận chuyển cho N khi Như bán được số pháo trên. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Tuyết N về hành vi vận chuyển hàng cấm, đồng thời tạm giữ tang vật, phương tiện có liên quan để xác minh làm rõ.

Vật chứng, đồ vật khác thu giữ trong vụ án:

  • 47 (bốn mươi bảy) hợp giấy có kích thước 27cm x 27cm x 7cm, bên trong có chứa các ống giấy màu đỏ hình trụ tròn dài 3,3cm, đường kính 0,7cm liên kết với nhau thành tràng là pháo nổ. Khối lượng: 65.7kg; 239 túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh là pháo nổ. Khối lượng: 51k (đã tiêu hủy).
  • 01 xe ô tô tải hiệu THACO, biển kiểm soát: 67C-079.73; 03 thùng giấy catton; 02 bao tải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 của Trần Thanh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra của Lê Thị Tuyết N.

Căn cứ Kết luận giám định số 6915/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“47 (bốn mươi bảy) hợp giấy có kích thước 27cm x 27cm x 7cm, bên trong có chứa các ống giấy màu đỏ hình trụ tròn dài 3,3cm, đường kính 0,7cm liên kết với nhau thành tràng là pháo nổ. Khối lượng: 65.7kg.

239 (hai trăm ba mươi chín) túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh là pháo nổ. Khối lượng: 51kg”

Cáo trạng số 15/CT-VKSAP ngày 06 tháng 3 năm 2025 truy tố Lê Thị Tuyết N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Bị cáo N khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố. Bị cáo biết Pháo nổ là hàng cấm, thừa nhận hành vi vận chuyển số hàng hóa không hóa đơn chứng từ trên là vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến về chủng loại, số lượng hàng hóa bị thu giữ, kết luận giám định, kết quả giám định của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lời khai của những người chứng kiến, người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tỉnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là từ 04 đến 05 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N từ 30 đến 40 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 02 Điều 106 của Bộ luật hình sự:

Đề nghị trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim H1 01 xe ô tô tải hiệu THACO, biển kiểm soát: 67C-079.73; trả cho ông Trần Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50; tịch thu, tiêu hủy 03 thùng giấy catton, 02 bao tải; tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra của Lê Thị Tuyết N.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác như bị cáo chỉ là người có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật cũng còn hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo và thành khẩn nhận tội. Bị cáo có cuộc sống khó khăn là lao động chính trong gia đình có 04 người con chưa có nghề nghiệp ổn định và phải nuôi mẹ già đã 87 tuổi bị tai biến nằm một chỗ, bản thân bị cáo cũng có bệnh phải thường xuyên điều trị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm xem xét chấp nhận cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, bà Trần Thị Q, người chứng kiến ông Lê Ngọc H3, ông Nguyễn Văn P vắng mặt mặc dù đã được Toà án tổng đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 08/11/2024, bị cáo đã thuê ông H dùng xe ôtô tải hiệu THACO, biển kiểm soát: 67C-079.73 vận chuyển 47 (bốn mươi bảy) hộp giấy bên trong có chứa các ống giấy màu đỏ hình trụ tròn liên kết với nhau thành tràng là pháo nổ. khối lượng: 65.7kg và 239 (hai trăm ba mươi chín) túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh là pháo nổ, khối lượng: 51kg, tổng khối lượng pháo nổ thu giữ được là 112,7 kg là loại hàng hóa cấm nhập khẩu, vận chuyển, lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam từ địa bàn xã K, huyện A mang về ấp T, xã T, huyện C để hưởng tiền công từ đối tượng tên Như đang sinh sống ở Campuchia.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước nói chung và tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay tình trạng buôn lậu, vận chuyển hàng cấm qua biên giới tại địa phương ngày càng tinh vi, phức tạp hơn và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn.

Tang vật của vụ án là pháo nổ nếu không được phát hiện và thu giữ kịp thời khi được tiêu thụ trên thị trường sẽ gây ra những hệ lụy cho cộng đồng, đe dọa đến sự an toàn cho mọi người, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự chung của xã hội.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc pháo nổ là sản phẩm cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Từ những căn cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội danh và mức hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng đã truy tố và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra hậu quả vì tội phạm đã được ngăn chặn kịp thời. Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động nghèo có cuộc sống khó khăn trình độ học vần thấp bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 04 người con chưa có nghề nghiệp ổn định và nuôi mẹ già đã 87 tuổi bị tai biến phải nằm một chỗ và cần có người thường xuyên chăm sóc. Bản thân bị cáo cũng có bệnh nền là bệnh tim và phải thường xuyên điều trị. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, một phần để răn đe phòng ngừa tội phạm và một phần thu nộp cho Ngân sách Nhà nước

[5] Các vấn đề khác :

  • Trần Thanh H do không biết sự việc N đưa pháo nổ lên xe ô tô tải do H điều khiển để vận chuyển nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H là có căn cứ.
  • Nguyễn Thị H2 do không biết sự việc N sử dụng địa điểm do H2 quản lý để vận chuyển pháo nổ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H2 là có căn cứ.
  • Trần Thị Q là người cung cấp dịch vụ nhận, chuyển tiền trực tuyến để hưởng hoa hồng và không biết mục đích chuyển số tiền 100.000.000 đồng theo yêu cầu của khách hàng cho Lê Thị Tuyết N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q là có căn cứ.
  • Đối tượng tên N1 và M1 do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý Như và M1 theo quy định pháp luật.

[6] Xử lý vật chứng:

  • 01 xe ô tô tải hiệu THACO, số khung: RNHA880AKHC042515, số máy: D4DBGJ639699, biển kiểm soát: 67C-079.73 (đã qua sử dụng) là phương tiện của bà Nguyễn Thị Kim H1 đứng tên cho thuê, bà H1 không biết bị cáo N và ông H1 dùng để vận chuyển nên trả lại cho bà H1.
  • Trả cho ông Trần Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra của Lê Thị Tuyết N dùng để liên lạc vận chuyển hàng cấm nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • Tịch thu, tiêu hủy: 03 thùng giấy catton; 02 bao tải do không có giá trị sử dụng;

Đối với các đồ vật, hàng hóa thu giữ khác trong vụ án đã được xem xét, giải quyết ở giai đoạn điều tra theo quy định nên không xem xét trong phần quyết định của bản án.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tuyết N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết N 02 năm tù, cho bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách dành cho bị cáo là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(ngày 15/4/2025).

Giao bị cáo Lê Thị Tuyết N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Lê Thị Tuyết N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự, tuyên xử:

Phạt tiền bị cáo Lê Thị Tuyết N 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Trả cho bà Nguyễn Thị Kim H1: 01 xe ô tô tải hiệu THACO, biển kiểm soát: 67C-079.73;
  • Trả cho ông Trần Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50;
  • Tịch thu, tiêu hủy: 03 thùng giấy catton, 02 bao tải;
  • Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra của Lê Thị Tuyết N.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh An Giang với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang)

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thị Tuyết N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND tỉnh An Giang;
  • Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • VKSND huyện An Phú;
  • Công an tỉnh An Giang;
  • Phân trại tạm giam KV huyện An Phú;
  • Chi cục THADS huyện An Phú;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Tuyết Nhung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger