|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 14/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh, ông Mai Xuân Thường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2024/TLST-HS ngày 27/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 02/01/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị L, tên gọi khác: không; sinh ngày: 09/4/1984 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Họ và tên cha: Trần Xuân N (đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X (đã chết) Anh chị em ruột: 11 người, bị cáo là con thứ mười một; Chồng: Dương Văn T, sinh namq 1981 (đã ly hôn); Con: có 03 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: Ngày 27/9/2021, Trần Thị L bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 113/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 09/11/2022.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2024 cho đến nay. Hiện đang
2
tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Cao T1 – Luật sư văn phòng L2
Địa chỉ: Số B, đường P, xã N (nay là phường N), thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Văn G, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Chị Vũ Thị P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
+ Bà Trần Thị L1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
+ Anh Trần Văn C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/7/2024, chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1973, trú tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An) trình báo Công an huyện Y về việc phát hiện tại nền đất đá thuộc khu vực vườn rau trong mảnh đất trống bên trái nhà ở của chị H tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An: 01 ống thủy tinh hình trụ tròn màu nâu, có nắp vặn màu vàng, bên ngoài được dán giấy nilông màu xanh có in chữ nước ngoài, bên trong có các viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy) nghi ngờ của Trần Thị L (sinh năm 1984, trú tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An) và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu đỏ bên trong gắn sim số 0983424774.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y phối hợp Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tiến hành khám nghiệm hiện trường khu vực vườn rau của chị Nguyễn Thị H. Quá trình khám nghiệm hiện trường, phát hiện thu giữ tại nền đất đá thuộc khu vực vườn rau trong mảnh đất trống bên trái nhà ở của chị H thuộc xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An có 01 ống trụ tròn bằng thủy tinh màu nâu, có nắp vặn màu vàng, bên ngoài được dán giấy nilông màu xanh có in chữ nước ngoài, bên trong có 30 gói nilông màu
3
vàng, bên trong mỗi gói đều có 12 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 39,325 gam (nghi ma túy Methamphetamine).
Ngày 28/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y triệu tập Trần Thị L đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, Trần Thị L xin đầu thú, giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám bên trong gắn sim số 0356108026, đã qua sử dụng và khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng đầu tháng 7/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Thị L nảy sinh ý định mua ma túy H1 phiến về bán lại kiếm lời. L sử dụng số điện thoại 0356.108.xxx gọi đến số điện thoại 0976.310.xxx của Đinh Văn G (sinh năm 1991, trú tại xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) để hỏi mua ma túy hồng phiến. G đồng ý và báo giá ma túy hồng phiến là 4.000.000đ/1 gói, L đặt mua của Giáo 6.000.000đ (sáu triệu đồng) ma túy hồng phiến và thống nhất lúc nào có ma túy, G sẽ đưa đến gần khu vực nhà L.
Khoảng 2 đến 3 ngày sau, vào khoảng 16 giờ 00 phút, G gọi điện cho L thông báo khoảng 01 tiếng nữa sẽ đến nơi. Khoảng 01 tiếng sau, L đi bộ đến khu vực ngã tư cách nhà L khoảng hơn 100m thì thấy G đang chờ ở mép đường. Sau khi nhận của L số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), Đinh Văn G chỉ chỗ giấu ma túy phía bãi cỏ mép đường ở góc ngã tư đối diện với vị trí đứng của L để Lý tự đến lấy, còn G đi về. Sau đó, L đến vị trí bãi cỏ mép đường thì thấy trên nền bãi cỏ có 01 (một) túi nilông màu đen, mở ra bên trong có 02 (hai) gói nilông màu xanh, bên trong có các viên ma túy Hồng phiến, Lý gói lại vào túi nilông màu đen ban đầu rồi đi bộ về nhà.
Sau khi về nhà, L đưa số ma túy hồng phiến vừa mua ra đếm được 360 viên, L chia thành 30 gói nhỏ, mỗi gói 12 viên rồi bỏ vào trong 01 lọ đựng thực phẩm chức năng (đã sử dụng hết) hình trụ tròn bằng thủy tinh màu nâu, có nắp vặn màu vàng, bên ngoài dán giấy nilông màu xanh có in chữ nước ngoài mục đích bán lại với giá 1.000.000 đồng/01 gói. L cầm lọ ma túy ra mảnh đất trống nằm bên trái nhà ở của chị Nguyễn Thị H (là hàng xóm của L) trên mảnh đất này có trồng rau, tập kết đất đá và sắt vụn. Lý cất lọ ma túy vào vùng lõm này và vun đất đá che phủ lên trên.
Ngày 28/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Đinh Văn G nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tại Cơ quan điều tra G không thừa nhận việc bán ma túy cho Trần Thị L. Ngày 28/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trả tự do cho Đinh Văn G.
4
- Tại bản kết luận giám định số: 790/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 03/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M30 của Trần Thị L thu giữ tại vị trí trên đất đá thuộc khu vực vườn rau trong mảnh đất trống bên trái nhà ở của chị Nguyễn Thị H tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An gửi tới giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén hình tròn màu hồng (360 viên) của Trần Thị L thu giữ tại vị trí trên nền đất đá thuộc khu vực vườn rau trong mảnh đất trống bên trái nhà ở của chị Nguyễn Thị H tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An có tổng khối lượng là 39,325g (ba mươi chín phẩy ba trăm hai mươi lăm gam)”.
- Tại bản kết luận giám định số: 18/KL-KTHS (Đ3-ĐV) ngày 03/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Trên 30 (bao) mảnh ni lông màu vàng kí hiệu lần lượt từ A1 đến A30 phát hiện một số dấu vết đường vân không đủ yếu tố tiến hành giám định truy nguyên đồng nhất. Không phát hiện thấy dấu vết đường vân trên lọ thủy tinh màu nâu, có nắp vặn màu vàng, bên ngoài được dán giấy màu xanh, trắng có in chữ nước ngoài, ký hiệu A31”.
- Tại bản kết luận giám định số: 117/KL-KTHS (Đ3-KTSĐT) ngày 03/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu từ ứng dụng Messenger trên điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, số IMEI 1: 866376044246418, số IMEI 2: 866376044246400, bên trong có gắn sim, trên sim in dãy số 898404800065046648 do phần mềm, thiết bị không đủ điều kiện để thực hiện phục hồi, trích xuất”
- Tại bản kết luận giám định số: 118/KL-KTHS (Đ3-KTSĐT) ngày 03/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi giữa số điện thoại 0356.108.xxx với số điện thoại 0976.310.xxx trong thời gian từ ngày 25/6/2024 đến ngày 27/7/2024 trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Pro màu đen, số IMEI 1: 353076690765220, số IMEI2: 353076690879708, bên trong có gắn sim, trên sim in dãy số: 8984048000303872179. Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu từ ứng dụng Messenger trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu đen, số IMEI 1: 353076690765220, số IMEI 2: 353076690879708, bên trong có gắn sim, trên sim có in dãy số 8984048000303872179 do phần mềm, thiết bị không đủ điều kiện để thực hiện phục hồi, trích xuất”.
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thị L thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 15/CT-VKS-P1 ngày 12/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Trần Thị L về tội “Mua bán trái phép
5
chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, khoản 1 khoảng 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Thị L từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên đề nghị miễn hành phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự : Đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu sung ngân sách chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội.
Trả cho chị Nguyễn Thị H chiếc điện thoại thu giữ của chị H không liên quan đến hành vi phạm tội;
Trả chiếc xe máy cảu anh Đinh văn G cho anh G do chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh không có ý kiến gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo với các tình tiết sau: Bị cáo khai báo thành khẩn, có công trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc được phòng Cảnh sát truy nã tội phạm xác nhận, sau khi phạm tội ra đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, có bố đẻ ông Trần Xuân N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Ủy ban nhân dân huyện Y tặng Giấy khen vì đạt thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống cháy rừng. Hiện nay bị cáo mình nuôi 03 con còn nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị cảu Kiểm sát viên.
Bị cáo đồng ý kiến của luật sư không có tranh luận gì thêm
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.
6
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng đầu tháng 7 năm 2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Thị L nảy sinh ý định mua ma túy H1 phiến về bán lại kiếm lời nên L đã mua một gói ma túy (M) khối lượng 39,325g giá 6.000.000đ về nhà chia thành 30 gói nhỏ cất dấu tại khu vực vườn rau nhà chị Nguyễn Thị H, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An mục đích bán với giá 1.000.000₫ /01 gói để kiếm lời. Đến ngày 27/7/2024 trong khi làm vườn chị Nguyễn Thị H phát hiện vị trí cất dấu ma túy nên trình báo công an huyện Y. Sau khi phát hiện số ma túy trên thì Trần Thị L đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, Trần Thị L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy khối lượng 39,325 gam ma túy (Methamphetamine).Do đó, Cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất hành vi phạm tội:
[2.1] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; có công trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc được phòng Cảnh sát truy nã tội phạm Công an tỉnh N xác nhận, đã ra đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, có bố đẻ ông Trần Xuân N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Ủy ban nhân dân huyện Y tặng Giấy khen vì đạt thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống cháy rừng. Như vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Thị L phạm tội chưa được xáo án tích, nên phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Trong tình hình hiện nay ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý
7
nghiêm nhưng vẫn cố tình thực hiện; bị cáo đã từng bị xét xử về tội ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học, nay tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, để răn đe tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện nay đang nuôi 03 con. Do đó, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xử phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[3] Đối với Đinh Văn G, theo L khai là người bán ma túy cho L tuy nhiên G không thừa nhận hành vi này. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho Trần Thị L và Đinh Văn G đối chất nhưng không có kết quả. Với tài liệu thu thập được, chưa đủ căn cứ để xử lý Đinh Văn G trong vụ án này.
[4] Đối với chị Nguyễn Thị H là người phát hiện ống thủy tinh chứa ma túy tại vườn rau của mình, đã trình báo cho Cơ quan Công an để điều tra làm rõ sự việc. Quá trình xác minh, xác định chị H không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị L.
[5] Về vật chứng vụ án:
Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành và một số vật chứng không có giá sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám, số IMEI 1: 353076690765220, số IMEI 2: 353076690879708, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Thị L. Xét thấy đây là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, xung quỹ.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu đỏ, số IMEI 1: 866376044246418, IMEI 2: 866376044246400, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị H. Xét thấy chị Nguyễn Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị L nên cần trả lại cho chị H.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 37G1-861.03 đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Văn G. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định chưa đủ căn cứ để xử lý Đinh Văn G. Ngày 28/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trả tự do cho Đinh Văn G. Do đó, cần trà lại cho anh Đinh Văn G 01 chiếc xe mô tô.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
8
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Thị L 15(mười lăm) năm tù về tội. “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: một phong bì thư niêm phong bên trong có 26,2 gam ma túy Methamphetamin là vật chứng còn lại của vụ án sau khi giám định; 01 túi niêm phong mã số NS3 2024449, bên trong có 30 mảnh bao ni lông màu vàng; 01 túi niêm phong mã số NS 2024448, bên trong có 01 lọ thủy tinh màu nâu.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon Pro màu xám đã qua sử dụng của Trần Thị L.
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO f9 máy đã qua sử dụng.
- + Trả 01 chiếc mo tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 37G1 – 861.03, xe đã qua sử dụng cho anh Đinh Văn G
Đặc điểm, chi tiết các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/12/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thihành án dân sự tỉnh N.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Hồ Cảnh |
Mai Xuân Thường |
Nguyễn Thị Hải Minh |
10
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quang Trung |
Trần Quốc Cường |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
Nguyễn Thị Ngân |
Hoàng Thị Hường |
Võ Duy Bảo |
11
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
