TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày: 11/11/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Hiền.
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thạo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Phi Y, sinh ngày 24/10/1992; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Nơi cư trú: số E N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: số E N, ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long); Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N; Chồng: Đồng Minh T1 (là bị cáo trong vụ án); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2018; Bị cáo có 01 em sinh năm 1998 tên Nguyễn Công L (là bị cáo trong vụ án); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/4/2025 cho đến nay tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long). Bị cáo có mặt.
- Đồng Minh T1, sinh ngày 24/11/1992; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Nơi cư trú: số E N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: số E N, ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long); Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Văn P và bà Lý Trang Đ; Vợ: Nguyễn Thị Phi Y (là bị cáo trong vụ án); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2018; Bị cáo có 01 em sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/6/2025 cho đến nay tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long). Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Công L, sinh ngày 11/8/1998; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); Nơi cư trú: số 288/AN, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: số 288/AN, ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long); Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N; Vợ: Lê Tuyết M; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024; Bị cáo có 01 chị sinh năm 1992 tên Nguyễn Thị Phi Y (là bị cáo trong vụ án); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/4/2025 cho đến nay tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long). Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Ngọc L1, sinh năm 1987; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1969; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Thị S, sinh năm 1957; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Trần Thị N1, sinh năm 1967; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Bùi Thị Tuyết H, sinh năm 1969; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Lê Thị Q, sinh năm 2000; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp V, xã B, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1970; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1, sinh năm 1973; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Bùi Trần Ngọc T3, sinh năm 1974; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Thị T4, sinh năm 1968; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Đoàn Thanh T5, sinh năm 1989; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Huỳnh Văn T6, sinh năm 1959; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Nguyễn Công T, sinh năm 1970; (Có mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Lê Thị N, sinh năm 1972; (Có mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long. - Lý Gia K, sinh năm 2006; (Có mặt).
Nơi cư trú: số F, ấp F, xã B, tỉnh Vĩnh Long. - Đồng Văn P, sinh năm 1967; (Có mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn D, sinh năm 1985; (Có mặt).
Nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 16/10/2023, Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh V) tiến hành triệt xóa điểm bán số đề tại quán nước của bà Trần Ngọc L1 - sinh năm 1987 tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long) phát hiện bà Nguyễn Thị Hồng T2 - sinh năm 1969, nơi thường trú ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long) đến gặp bà Trần Ngọc L1 để mua số đề.
Qua làm việc, bà Trần Ngọc L1 khai nhận sau khi bán số đề cho người khác thì bà L1 sẽ tổng hợp lại và chuyển về thầu trên là Nguyễn Thị Phi Y - sinh năm 1992, ngụ số E N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long) làm thầu đề tại địa chỉ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
Căn cứ vào lời khai của Trần Ngọc L1, khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày 16/10/2023, lực lượng Công an tiếp tục kiểm tra nhà số B, ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long phát hiện Nguyễn Thị Phi Y đang ghi phơi đề cho: bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1957, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long; bà Trần Thị N1 - sinh năm 1967, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long và bà Bùi Thị Tuyết H - sinh năm 1969, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Phi Y về hành vi đánh bạc.
Quá trình điều tra xác định, Y bán và làm chủ lô đề từ đầu năm 2023 đến ngày bị bắt quả tang, Y sử dụng nhà của cha mẹ ruột là ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N tại số B, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long) để thực hiện việc mua bán và làm chủ lô số đề. Hình thức chơi số đề căn cứ kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N, miền T và miền B, theo đó đài miền N và đài miền T kết quả xổ số giải thưởng có 09 giải gồm từ giải tám đến giải nhất và giải đặc biệt, trong đó giải tám có 01 dãy số, giải bảy có 01 dãy số, giải sáu có 03 dãy số, giải năm có 01 dãy số, giải bốn có 07 dãy số, giải ba có 02 dãy số, giải nhì có 01 dãy số, giải nhất có 01 dãy số và giải đặc biệt có 01 dãy số, mỗi dãy số được tính là 01 lô. Trong mỗi dãy số nếu tính hai số (hàng chục) của từng giải thì tổng cộng có 18 lô, nếu tính ba số (hàng trăm) của từng giải thì tổng cộng có 17 lô, nếu tính 04 số (hàng nghìn) thì tổng cộng có 16 lô. Kết quả mở thưởng các đài miền N bắt đầu lúc 16 giờ 15 phút và kết thúc lúc 16 giờ 30 phút, các đài miền T bắt đầu lúc 17 giờ 15 phút và kết thúc lúc 17 giờ 30 phút; còn riêng đài miền B thì có 08 giải thưởng từ giải bảy đến giải nhất và giải đặc biệt, trong đó giải bảy có 04 dãy số, giải sáu có 03 dãy số, giải năm có 06 dãy số, giải bốn có 04 dãy số, giải ba có 06 dãy số, giải nhì có 02 dãy số, giải nhất có 01 dãy số, giải đặc biệt có 01 dãy số, mỗi dãy số được tính là 01 lô đề. Trong mỗi dãy số nếu tính 02 số (hàng chục) thì đài miền bắc có 27 lô, nếu tính 03 số (hàng trăm) thì có 23 lô, nếu tính 04 số ở mỗi dãy số thì có 20 lô đề, kết quả mở thưởng đài miền B bắt đầu lúc 18 giờ 15 phút và kết thúc lúc 18 giờ 30 phút. Khi có người mua số đề thì Y sẽ trừ huê hồng 25%, người mua chỉ trả tiền 75% trên tổng số tiền mua đề. Tính tiền trúng số đề: nếu mua hai số (hàng chục) với số tiền 1.000 đồng thì trúng 70.000 đồng, nếu mua 03 số (hàng trăm) với số tiền 1.000 đồng thì trúng 600.000 đồng, nếu mua 04 số (hàng nghìn) với số tiền 1.000 đồng thì trúng 5.000.000 đồng, số đá xuống trong một đài nghĩa là hai số hàng chục của giải thưởng xổ số, mua số tiền 1.000 đồng trúng 600.000 đồng, đá xiên nghĩa là hai số (hàng chục) của mỗi lô mở xổ của hai đài xổ số đá nhau thì mua số tiền 1.000 đồng trúng 450.000 đồng, nếu kết quả xổ số kiến thiết có các số giống các số đã mua thì trúng số đề, không trùng các số đã mua thì không trúng số đề.
Theo đó, Y sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone XS có số thuê bao 0385.650.161 và tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Mypham” để bán và nhận các phơi đề từ người chơi khác trong ngày 16/10/2023 cho cả 03 đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau), miền T (Phú Yên, Thừa Thiên H3), miền B với từng người chơi cụ thể như sau:
- - Một, Trần Ngọc L1 mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 1.091.000 đồng và trúng số đề được số tiền 1.050.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 2.141.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 1.350.000 đồng và trúng số đề được số tiền 675.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 2.025.000 đồng; mua số đề đài miền B với số tiền 447.000 đồng.
- - Hai, Nguyễn Công L - sinh năm 1998, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 9.441.000 đồng và trúng số đề được số tiền 5.250.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 14.691.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 3.098.000 đồng, không trúng đề; mua số đề đài miền B với số tiền 6.498.000 đồng.
- - Ba, Lê Thị Q - sinh ngày 10/7/2000 ngụ số 62/VĐT, ấp V, xã B, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 2.130.000 đồng và trúng số đề được số tiền 1.000.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.130.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 2.183.000 đồng và trúng số đề được số tiền 1.990.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 4.173.000 đồng.
- - Bốn, Nguyễn Thị Đ1 - sinh năm 1970, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 912.000 đồng và trúng số đề được số tiền 560.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.472.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 360.000 đồng, không trúng đề; mua số đề đài miền B với số tiền 744.000 đồng.
- - Năm, Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 - sinh năm 1973, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 1.131.000 đồng và trúng số đề được số tiền 140.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.271.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 408.000 đồng, không trúng đề.
- - Sáu, Bùi Trần Ngọc T3 - sinh năm 1974, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền B với số tiền 2.196.500 đồng.
- - Bảy, Nguyễn Thị T4 - sinh năm 1968, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 162.500 đồng, không trúng đề; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 104.000 đồng, không trúng đề.
- - Tám, Nguyễn Thị H2 - sinh năm 1966, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 2.634.000 đồng và trúng số đề được số tiền 1.050.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.684.000 đồng.
- - Chín, Đoàn Thanh T5 - sinh năm 1989, ngụ ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long mua số đề đài miền B với số tiền 2.915.000 đồng.
- - Mười, Nguyễn Thị S mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 284.000 đồng và trúng số đề được số tiền 675.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 959.000 đồng; mua số đề đài miền B với số tiền 1.048.000 đồng.
Do đó, tổng số tiền Nguyễn Thị Phi Y cùng dùng vào việc đánh bạc với 10 người đã được xác định nhân thân lai lịch vào ngày 16/10/2023 đối với 03 đài miền N - T - Bắc như sau: miền N số tiền 26.511.500 đồng (gồm tiền bán đề là 17.501.500 đồng, tiền trúng đề là 9.050.000 đồng), miền T số tiền 11.127.000 đồng (gồm tiền bán đề là 7.787.000 đồng, tiền trúng đề là 3.340.000 đồng), miền B số tiền 13.848.500 đồng.
Ngoài 10 người đánh bạc đã được xác định nêu trên thì quá trình điều tra dựa trên lời khai của Nguyễn Thị Phi Y có tham gia đánh bạc với những người không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch như sau:
- - Một, Người tên “T7” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 6.300.000 đồng và trúng số đề được số tiền 4.900.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 11.200.000 đồng; mua số đề đài miền B với số tiền 4.050.000 đồng.
- - Hai, Người tên “Popo” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 4.870.000 đồng, không trúng đề; mua số đề đài miền B với số tiền 137.000 đồng.
- - Ba, Người tên “Thới” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 1.587.000 đồng và trúng số đề được số tiền 1.440.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.027.000 đồng; mua số đề đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 1.404.000 đồng và trúng số đề được số tiền 2.820.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 4.224.000 đồng; mua số đề đài miền B với số tiền 192.000 đồng.
- - B, Người tên “Chú T6” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 1.179.000 đồng và trúng số đề được số tiền 140.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.319.000 đồng; mua số đề đài miền B với số tiền 352.000 đồng.
- - Năm, Người tên “Dì In” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với số tiền 96.000 đồng, không trúng đề; mua số đài miền T (Huế, Phú Yên) với số tiền 64.000 đồng, không trúng đề.
- - S1, Người tên “Mới” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp) với số tiền là 1.472.000 đồng và trúng số đề được số tiền 2.220.000 đồng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.692.000 đồng.
- - B1, Người tên “Bà T8” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền B với số tiền 1.040.000 đồng.
- - T9, Người tên “Chị L2” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N với số tiền 384.000 đồng, không trúng đề; mua số đề đài miền B với số tiền là 400.000 đồng.
- - Chín, Người tên “2 Kiu” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền B với số tiền 81.000 đồng.
- - M1, Người tên “8” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua số đề đài miền N với số tiền 1.056.000 đồng, không trúng đề.
Ngoài những người đánh bạc kể trên, qua kết quả kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone XS của Nguyễn Thị Phi Y thì phát hiện trong thư mục hình ảnh có lưu giữ 46 hình ảnh là các phơi đề của Y sau khi trực tiếp bán đề cho các người chơi vào ngày 16/10/2023 rồi Y chụp hình lưu lại làm căn cứ để trả tiền trúng đề khi có kết quả xổ số của 03 đài miền N, miền T và miền B. Quá trình đối chiếu và cho Y tự kê khai thì xác định được số tiền đánh bạc đối với 46 phơi đề là 40.910.000 đồng, trong đó đài miền N là 29.621.000 đồng (tiền bán đề 10.530.000 đồng, tiền trúng đề 19.091.000 đồng), miền T10 là 4.633.000 đồng (tiền bán đề 4.058.000 đồng, tiền trúng đề 575.000 đồng) và miền B2 là 6.656.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của những người chơi trong 46 phơi đề này.
Sau khi bán số đề thì Nguyễn Thị Phi Y tập hợp các số đề đã bán rồi chuyển 18 tin nhắn có nội dung những con số đề, đài xổ số (đài miền N, miền T và miền B), hình thức chơi (bao lô, xỉu chủ, đầu đuôi...) và số tiền mua số đề qua phần mềm Zalo vào tên nhóm “8386” do Y lập để thông báo cho chồng là Đồng Minh T1 - sinh năm 1992, nơi thường trú: số 52, Nguyễn Đình C, xã B, tỉnh Vĩnh Long lưu tên trong Z là “Anh M2” biết để tính tiền bán đề và kiểm tra xem ai đã trúng đề sau đó thông báo cho Y biết khi có kết quả xổ số. Đồng Minh T1 sử dụng điện thoại Iphone 8 Plus có số thuê bao 0862.760.139 để nhận tin nhắn của Y, gồm 13 tin nhắn đài miền N, 04 tin nhắn đài miền T và 01 tin nhắn đài miền B. Trong 13 tin nhắn đài miền N xác định được 03 tin nhắn mua đề của Nguyễn Công L số tiền 9.411.000 đồng, của Lê Thị Q số tiền 2.130.000 đồng, của Nguyễn Thị Đ1 số tiền 912.000 đồng, với tổng số tiền là 12.483.000 đồng; trong 04 tin nhắn đài miền T xác định được 03 tin nhắn mua đề gồm của Nguyễn Công L số tiền 3.098.000 đồng, của Lê Thị Q số tiền 2.183.000 đồng và Trần Ngọc L1 số tiền 1.350.000 đồng, với tổng số tiền là 6.631.000 đồng; còn 12 tin nhắn còn lại (10 tin đài miền N, 01 tin đài miền T và 01 tin đài miền B) thì không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của các người chơi đề. Đồng Minh T1 cũng đã nhắn tin thông báo cho Y biết về số tiền bán đề và tên của những người trúng đề ở 02 đài miền N và miền T, riêng đài miền B thì T1 chưa kịp tính tiền thông báo cho Y thì bị bắt quả tang.
Đối với Nguyễn Công L đánh bạc với Nguyễn Thị Phi Y bằng hình thức L sau khi bán số đề và thu tiền 75% trên tổng số tiền người mua số đề rồi giao lại cho Nguyễn Thị Phi Y 70% số tiền người mua số đề để hưởng 05% chênh lệch. Trong ngày 16/10/2023, L tham gia đánh bạc với Y qua cả 03 đài miền N, miền T và miền B trong đó số tiền đánh bạc đài miền N là 14.691.000 đồng (gồm tiền mua đề 9.441.000 đồng, trúng đề 5.250.000 đồng), miền B là số tiền 6.498.000 đồng, còn miền T số tiền 3.098.000 đồng. Qua điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của những người chơi đề đã mua số đề từ Nguyễn Công L nên không có cơ sở để xử lý.
Các tài liệu, đồ vật, tài sản thu giữ gồm:
- * Thu giữ của Nguyễn Thị Phi Y: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số sêri GR3DM0FYKPGD, bên trong có gắn sim số thuê bao 0385650161; 03 cây viết hiệu Thiên Long màu xanh, màu đỏ, màu đen; 01 máy tính hiệu Casio; số tiền Việt Nam 10.060.000 đồng thu giữ trong hộc tủ bàn nơi Y bán số đề; số tiền Việt Nam 27.000.000 đồng thu giữ bên trong két sắt trong phòng nơi Y bán số đề, chưa xử lý; 04 phơi đề trong hộc tủ bàn và 07 phơi đề trên bàn nơi Y ngồi bán số đề;
- * Thu giữ của Đồng Minh T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng, bên trong có gắn sim số thuê bao 0862.760.139 và số tiền Việt Nam 7.500.000 đồng, chưa xử lý;
- * Thu giữ của Trần Ngọc L1: 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, số seri 0525073410294A, bên trong lắp sim số 0962.587.824, 01 điện thoại đi động hiệu OPPO, số seri: ed90cfb, bên trong lắp sim số 0845.871.577 và 0334.181.474, 01 tờ giấy nhỏ có ghi nhiều chữ và số, 08 tờ vé số, mặt sau các tờ vé số có ghi số đề, 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 máy tính hiệu Casio màu hồng, 20 tờ vé số của nhiều ngày trước cùng số tiền Việt Nam 8.500.000 đồng, chưa xử lý;
- * Thu giữ của Nguyễn Thị Hồng T2: 01 tờ giấy kết quả xổ số ngày 15/10/2023 có nội dung ghi số đề, 01 viết bút bi mực màu xanh, cùng số tiền Việt Nam 70.000 đồng, chưa xử lý;
- * Thu giữ của bà Nguyễn Thị S 03 tờ phơi đề (giấy ghi các con số đề, số tiền), chưa xử lý;
- * Thu giữ của bà Nguyễn Thị H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A34, màu xanh, bên trong có gắn sim số thuê bao 0348.319.863, chưa xử lý;
- * Thu giữ của bà Nguyễn Thị Đ1 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đỏ, bên trong gắn sim thuê bao số 0345.455.729, chưa xử lý;.
Tại Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSKV8 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, Đồng Minh T1, Nguyễn Công L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, Đồng Minh T1, Nguyễn Công L phạm tội “Đánh bạc”, đồng thời đề nghị HĐXX:
- * Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phi Y từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Minh T1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công L từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 cây viết hiệu Thiên Long màu xanh, màu đỏ, màu đen; 01 máy tính hiệu Casio thu giữ của Nguyễn Thị Phi Y; 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 máy tính hiệu Casio màu hồng thu giữ của Trần Ngọc L1; 01 viết bút bi mực màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Hồng T2 do bị cáo Y, bà L1, bà T2 không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng; sim số 0385.650.161 của bị cáo Y; sim số 0862.760.139 của bị cáo T1; sim số 0962.587.824, sim số 0845.871.577 và 0334.181.474 của Trần Ngọc L1; sim số 0348.319.863 của Nguyễn Thị H2; sim số 0345.455.729 của Nguyễn Thị Đ1 là phương tiện liên lạc vào việc đánh bạc và những người này không yêu cầu nhận lại.
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: số tiền 3.060.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y dùng vào việc đánh bạc và tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng của bị cáo Y để đảm bảo việc thi hành án.
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số sê ri GR3DM0FYKPGD của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng thu giữ của Đồng Minh T1; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, số seri 0525073410294A và 01 điện thoại đi động hiệu OPPO, số seri: ed90cfb của Trần Ngọc L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A34, màu xanh của Nguyễn Thị H2; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Đ1 do đây là phương tiện dùng vào việc đánh bạc còn giá trị sử dụng và những người này không yêu cầu nhận lại.
- - Trả lại số tiền 27.000.000 đồng cho ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N thu giữ khi bắt quả tang hành vi đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, do đây là tiền của ông T, bà N và không liên quan đến việc phạm tội.
- - Trả lại cho Nguyễn Thị Hồng T2 số tiền 70.000 đồng thu giữ của bà T2 là tài sản cá nhân của bà T2 và không liên phạm tội.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.500.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 để đảm bảo việc thi hành án.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phi Y giao nộp số tiền đánh bạc tổng cộng là 29.689.000 đồng, trong đó (tiền đánh bạc với Trần Ngọc L1 1.725.000 đồng; với Nguyễn Công L 19.037.000 đồng; với Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 1.539.000 đồng; với Nguyễn Thị Đ1 2.016.000 đồng; với Lê Thị Q 2.990.000 đồng, với Nguyễn Thị H2 1.050.000 đồng; với Nguyễn Thị S 1.332.000 đồng);
- - Buộc bị cáo Nguyễn Công L giao nộp số tiền trúng đề 5.250.000 đồng và số tiền đã nhận bán đề cho Huỳnh Văn T6 là 270.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo L nộp lại tổng cộng là 5.520.000 đồng;
- - Buộc Trần Ngọc L1 giao nộp số tiền đánh bạc 2.888.000 đồng, khấu trừ vào số tiền bị tạm giữ là số tiền 8.500.000 đồng của bà Trần Ngọc L1. Trả lại cho bà L1 số tiền còn lại sau khấu trừ là 5.612.000 đồng;
- - Buộc Đoàn Thanh T5 giao nộp số tiền đánh bạc 2.915.000 đồng;
- - Buộc Bùi Trần Ngọc T3 giao nộp số tiền đánh bạc 2.196.500 đồng;
- - Buộc Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 giao nộp số tiền trúng đề 140.000 đồng;
- - Buộc Lê Thị Q giao nộp số tiền đánh bạc 4.313.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị H2 giao nộp số tiền đánh bạc 2.634.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị Đ1 giao nộp số tiền đánh bạc 560.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị S giao nộp số tiền đánh bạc 675.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị T4 giao nộp số tiền đánh bạc 266.500 đồng;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, Đồng Minh T1 và Nguyễn Công L đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán số đề đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã xác định mà các bị cáo đã thực hiện là hoàn toàn đúng. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Công L khai nhận ngoài lần thực hiện tội phạm đủ định lượng đã bị khởi tố thì còn có hành vi tham gia đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự cũng đã bị cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo đã chấp hành và nộp phạt xong.
* Về các tang vật, vật chứng bị tạm giữ của các bị cáo:
- - Bị cáo Y trình bày:
- + Đối với số tiền Việt Nam 27.000.000 đồng thu giữ bên trong két sắt trong phòng nơi bị cáo bán số đề là tài sản của cha mẹ ruột bị cáo là ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N, không liên quan gì đến việc bán số đề của bị cáo nên bị cáo có đề nghị trả lại cho ông T và bà N.
- + Đối với số tiền Việt Nam 10.060.000 đồng thu giữ trong hộc tủ bàn nơi bị cáo bán số đề thì trong đó có 3.060.000 đồng bị cáo bán số đề có được, đây là tiền do hành vi phạm tội mà có nên bị cáo đồng ý nộp vào Ngân sách nhà nước và 7.000.000 đồng là do lúc bị bắt quả tang có cán bộ Công an (bị cáo không nhớ tên, không nhớ mặt) yêu cầu bị cáo đưa thêm 7.000.000 đồng để nộp đủ số tiền 10.060.000 đồng, bị cáo nghĩ là tạm giữ để nộp đủ số tiền đóng phạt nên bị cáo có yêu cầu mẹ bị cáo là bà Lê Thị N cho bị cáo mượn số tiền 7.000.000 đồng để đưa vào tạm giữ. Số tiền này là mẹ bị cáo mượn của Nguyễn Văn D là em rễ của bị cáo T1. Hiện số tiền 7.000.000 đồng này đã được bị cáo đưa tiền cho bị cáo T1 trả lại cho Nguyễn Văn D. Vì vậy, đối với tổng số tiền 10.060.000 đồng bị tạm giữ, bị cáo có yêu cầu khấu trừ số tiền 7.000.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo đã đưa cho bị cáo T1 trả lại cho Nguyễn Văn D vào tổng số tiền mà bị cáo có trách nhiệm nộp lại Ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số sêri GR3DM0FYKPGD, bên trong có gắn sim số thuê bao 0385650161; 03 cây viết hiệu Thiên Long màu xanh, màu đỏ, màu đen; 01 máy tính hiệu Casio; 04 phơi đề trong hộc tủ bàn và 07 phơi đề trên bàn nơi bị cáo ngồi bán số đề là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên bị cáo không yêu cầu nhận lại.
- - Bị cáo T1 trình bày:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng, bên trong có gắn sim số thuê bao 0862.760.139 bị tạm giữ là công cụ phương tiện, bị cáo dùng vào việc phạm tội nên bị cáo không yêu cầu nhận lại. Thuê bao số 0862.760.139 là của Lý Gia K là em của bị cáo đăng ký chính chủ. Việc bị cáo lấy sử dụng thì K hoàn toàn không biết.
- + Đối với số tiền Việt Nam 7.500.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan gì đến việc bán số đề mà có nên bị cáo xin được nhận lại.
- + Đối với số tiền 7.000.000 đồng mà Lê Thị N là mẹ vợ bị cáo mượn của em rễ bị cáo là Nguyễn Văn D để đưa cho bị cáo Y. Số tiền 7.000.000 đồng này, bị cáo Y đã đưa cho bị cáo đã trả lại cho Nguyễn Văn D. Tiền này tiền cá nhân của Y.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc L1 trình bày: Vào ngày 26/10/2023, bà có ghi bán số đề cho nhiều người khác, sau đó tập hợp chuyển tin nhắn mua số đề qua cho thầu trên là bị cáo Y ăn chênh lệch phần trăm, cụ thể mua số đề đài miền N với số tiền là 1.091.000 đồng; mua số đề miền T số tiền là 1.350.000 đồng; mua số đề miền B số tiền là 447.000 đồng. Tuy nhiên, hai bên chưa thanh toán tiền giao dịch mua, bán số đề với nhau. Bà chưa đưa tiền mua số đề cho bị cáo Y và bị cáo Y chưa đưa tiền trúng đề vào ngày 16/10/2023 cho bà, do lúc này đã bị Cơ quan chức năng bắt quả tang, lập biên bản và mời về trụ sở Công an làm việc. Tại thời điểm bắt quả tang, có bà Nguyễn Thị Hồng T2 đến định mua số đề, nhưng hai bên chưa giao dịch xong. Bà sử dụng 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Realme màu xanh, lắp sim 0962.587.824 (do bà mua tại cửa hàng di động về sử dụng) và 01 điện thoại Oppo, lắp sim 0845.715.xxx (do bà mua tại cửa hàng di động về sử dụng) và 0334.181.474 (do bà bà nhặt được của Trần Văn Đ2 khi đến quán nước của bà uống nước và bỏ lại tại đây) để ghi số đề và tập hợp chuyển tin nhắn về cho thầu trên là bị cáo Y. Khi bị bắt quả tang, lực lượng Công an có thu giữ của bà 0 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, bên trong lắp sim số 0962.587.824, 01 điện thoại đi động hiệu OPPO, bên trong lắp sim số 0845.871.577 và 0334.181.474, 01 tờ giấy nhỏ có ghi nhiều chữ và số, 08 tờ vé số, mặt sau các tờ vé số có ghi số đề, 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 máy tính hiệu Casio màu hồng, 20 tờ vé số của nhiều ngày trước cùng số tiền Việt Nam 8.500.000 đồng. Đối với tổng số tiền đánh bạc của bà là 2.888.000 đồng, bà đồng ý nộp lại Ngân sách nhà nước, đồng ý khấu trừ vào số tiền 8.500.000 đồng bị tạm giữ lúc bị bắt quả tang, bà yêu cầu được nhận lại số tiền sau khi khấu trừ là 5.612.000 đồng. Phần đánh đề trúng là 1.725.000 đồng bị cáo Y chưa giao tiền cho bà nên phần này bà yêu cầu bị cáo Y nộp lại Ngân sách nhà nước. Đối với những tang vật còn lại bị tạm giữ bà không yêu cầu nhận lại, giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với hành vi mua bán số đề của bà do chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng T2 trình bày: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/10/2023, bà có đến quán nước của bà Trần Ngọc L1 mục đích định mua số đề của bà L1. Tuy nhiên, khi chưa mua xong (chưa giao tờ giấy ghi số đề muốn mua và tiền cho bà L1), thì bị lực lượng Công an bắt quả tang lập biên bản sự việc và mời về trụ sở làm việc. Khi bị bắt quả tang, lực lượng Công an có thu giữ của bà số tiền 70.000 đồng, 01 tờ giấy ghi kết quả xổ số ngày 15/10/2023 có nội dung ghi số đề, 01 cây viết bi mực màu xanh. Bà xin được nhận lại số tiền 70.000 đồng là tài sản cá nhân của bà, không dùng vào việc phạm tội. Đối với 01 tờ giấy ghi kết quả xổ số ngày 15/10/2023 là vật chứng của vụ án nên bà không yêu cầu nhận lại mà để lưu theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị S trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể mua đài miền T với số tiền là 284.000 đồng trừ huê hồng thì bà đã trả cho bị cáo Y số tiền là 105.000 đồng; miền B số tiền là 1.084.000 đồng trừ huê hồng thì bà đã trả cho bị cáo Y số tiền là 740.000 đồng. Bà trúng đề được số tiền là 675.000 đồng. Sau khi trừ tiền trúng đề thì bà trả thêm cho bị cáo Y số tiền 50.000 đồng, số tiền còn lại bà xin bị cáo Y không trả thêm. Khi vừa trả tiền xong cho bị cáo Y thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Khi bắt quả tang, Cơ quan Công an có tạm giữ của bà 03 tờ phơi đề (giấy ghi các con số đề, số tiền). Đối với tổng số tiền bà dùng vào việc đánh bạc là 1.332.000 đồng bà đã trả cho bị cáo Y nên bà có yêu cầu bị cáo Y nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền trúng đề là 675.000 đồng, bà đã được bị cáo Y giao tiền nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với 03 phơi đề bị tạm giữ là vật chứng của vụ án, bà không yêu cầu nhận lại mà để lưu theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị N1 trình bày: Vào khoảng 18 giờ ngày 16/10/2023, bà có đến nhà của bà Lê Thị N là mẹ ruột của bị cáo Y để gặp bị cáo Y mục đích định mua số đề. Tuy nhiên, khi chưa mua xong thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và mời về trụ sở làm việc. Ngoài ra, bà không còn liên quan gì trong vụ án.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Tuyết H trình bày: Vào khoảng 18 giờ ngày 16/10/2023, bà có đến nhà của bà Lê Thị N là mẹ ruột của bị cáo Y để gặp bị cáo Y mục đích định mua số đề. Tuy nhiên, khi chưa mua xong thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và mời về trụ sở làm việc. Trước đó, vào ngày 15/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y nhưng không trúng. Đối với hành vi mua số đề của bà vào ngày 15/10/2023 đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã nộp phạt xong. Ngoài ra, bà không còn liên quan gì trong vụ án.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Q trình bày: Vào ngày 16/10/2023, chị có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền N với số tiền là 2.130.000 đồng; miền T số tiền 2.183.000 đồng. Chị trúng đề miền N được số tiền là 1.000.000 đồng; trúng đề miền T được số tiền 1.990.000 đồng. Chị chưa thanh toán tiền mua số đề cho bị cáo Y và bị cáo Y chưa thanh toán tiền trúng đề cho chị. Số tiền đánh bạc của chị chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, chị đã đóng phạt xong. Chị sử dụng điện thoại di động SAMSUNG màu đỏ, bên trong gắn sim thuê bao số 0327.884.031 (sim do chị đăng ký chính chủ) để liên lạc mua số đề của bị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số này đã mất không tìm thấy. Đối với tổng số tiền đánh bạc của chị là 4.313.000 đồng, chị chưa đưa tiền cho bị cáo Y nên chị đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền trúng đề là 2.990.000 đồng, bị cáo Y chưa giao tiền cho chị nên chị yêu cầu bị cáo Y nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền N với số tiền là 912.000 đồng; miền T số tiền 360.000 đồng; miền B số tiền 774.000 đồng. Bà trúng đề miền N được số tiền là 560.000 đồng. Bà đã thanh toán tiền mua số đề cho bị cáo Y và bị cáo Y đã thanh toán tiền trúng đề cho bà. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Ngày 17/10/2023, bà sử dụng điện thoại di động SAMSUNG màu đỏ, bên trong gắn sim thuê bao số 0345.455.729 (sim do bà đăng ký chính chủ) để liêc lạc mua số đề của bị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số nêu trên đã bị Cơ quan điều tra tạm giữ. Đối với tổng số tiền đánh bạc của bà là 2.016.000 đồng, bà đã đưa tiền cho bị cáo Y nên bà yêu cầu bị cáo Y nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền trúng đề là 560.000 đồng, bị cáo Y đã giao tiền cho bà nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với điện thoại, sim số dùng mua số đề bị tạm giữ bà không yêu cầu nhận lại, giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền N với số tiền là 1.131.000 đồng; miền T số tiền 408.000 đồng; miền B số tiền 410.000 đồng (bị cáo Y chưa nhắn tin xác nhận đã bán cho bà và bà chưa trả tiền mua cho bị cáo Y). Bà trúng đề miền N được số tiền là 140.000 đồng. Bà đã thanh toán tiền mua số đề miền N và miền T cho bị cáo Y và bị cáo Y đã thanh toán tiền trúng đề cho bà. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Bà sử dụng điện thoại di động SAMSUNG, bên trong gắn sim thuê bao số 0389.543.470 (sim do bà đăng ký chính chủ) để liên lạc mua số đề của bị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số này đã mất không tìm thấy. Đối với tổng số tiền đánh đề của bà 1.539.000 đồng của đài miền N và miền T bà đã giao tiền cho bị cáo Y nên yêu cầu bị cáo Y nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền trúng đề là 140.000 đồng bị cáo Y đã giao tiền cho bà nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Trần Ngọc T3 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền B với số tiền là 2.196.500 đồng. Bà chưa thanh toán tiền mua số đề cho bị cáo Y. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Bà sử dụng điện thoại di động (không nhớ hiệu), bên trong gắn sim thuê bao số 0392.276.369 (sim do bà đăng ký chính chủ) để liên lạc mua số đề của bị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số này đã mất không tìm thấy. Đối với số tiền dùng đánh bạc của bà là 2.196.500 đồng, bà chưa trả tiền cho bị cáo Y nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T4 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền N với số tiền là 162.500 đồng; miền T số tiền 104.000 đồng. Bà chưa thanh toán tiền mua số đề cho bị cáo Y. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Bà sử dụng điện thoại di động (không nhớ hiệu), bên trong gắn sim thuê bao số 0346.818.321 (sim do bà đăng ký chính chủ) để liên lạc mua số đề của vị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số này đã mất không tìm thấy. Đối với số tiền dùng đánh bạc của bà là 266.500 đồng, bà chưa trả tiền cho bị cáo Y nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước.
Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, bà có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể mua đài miền N với số tiền là 2.634.000 đồng. Bà trúng đề được số tiền là 1.050.000 đồng. Bà chưa thanh toán tiền mua số đề cho bị cáo Y và bị cáo Y chưa thanh toán tiền trúng đề cho bà. Số tiền đánh bạc của bà chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bà đã đóng phạt xong. Ngày 17/10/2023, Cơ quan Công an có tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, bên trong có gắn sim số thuê bao 0348.319.863 (sim do chồng bà là ông Phạm Công Hải đăng K1 chính chỉ, hiện ông H4 đã bị tai biến không nhận thức được). Đối với tổng số tiền đánh bạc của bà là 2.634.000 đồng, bà chưa trả tiền cho bị cáo Y nên bà đồng ý nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền trúng đề là 1.050.000 đồng, bị cáo Y chưa giao tiền cho bà nên bà yêu cầu bị cáo Y nộp lại số tiền này vào Ngân sách nhà nước. Đối với điện thoại, sim số dùng mua số đề bị tạm giữ bà không yêu cầu nhận lại, giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Thanh T5 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, anh có mua số đề của bị cáo Y: Cụ thể: mua đài miền B với số tiền là 2.915.000 đồng. Anh chưa thanh toán tiền mua đề cho bị cáo Y. Số tiền đánh bạc của anh chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, anh đã đóng phạt xong. Anh sử dụng điện thoại di động OPPO, bên trong gắn sim thuê bao số 0374.152.826 (sim do anh đăng ký chính chủ) để liên lạc mua số đề của vị cáo Y. Hiện điện thoại và sim số này đã mất không tìm thấy. Đối với số tiền mua đề là 2.915.000 đồng, do anh chưa trả tiền cho bị cáo Y, nên anh đồng ý nộp lại Ngân sách nhà nước số tiền này.
Quá trình điều tra và tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 20/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn T6 trình bày: Vào ngày 16/10/2023, ông có mua trực tiếp số đề của bị cáo L: Cụ thể: mua đài miền B với số tiền là 270.000 đồng, trừ huê hồng thì ông đã thanh toán cho bị cáo L số tiền 200.000 đồng. Số tiền đánh bạc của ông chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên đã bị Cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ông đã đóng phạt xong. Đối với số tiền mua đề là 270.000 đồng đồng, ông đã trả tiền cho bị cáo L, nên ông yêu cầu bị cáo L nộp lại Ngân sách nhà nước số tiền này.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị N và Nguyễn Công T trình bày: Ông bà là cha mẹ ruột của bị cáo Y, việc bị cáo Y và T1 là con rễ của ông bà sử dụng nhà ông bà để giao dịch mua bán số đề với những ai thì ông bà hoàn toàn không biết. Bà N trình bày, khi lực lượng Công an đến bắt quả tang bị cáo Y và T1 thì có lập biên bản thu giữ tang vật, trong đó có tạm giữ số tiền 27.000.000 đồng trong két sắt, tại vị trí bị cáo Y đang sử dụng ghi số đề. Số tiền này là tiền cá nhân của vợ chồng ông bà không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên ông bà có yêu cầu xử lý trả lại cho ông bà.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Gia K trình bày: Anh là chủ sử dụng sim số 0862.760.139. Anh là em của bị cáo T1 và là em chồng của bị cáo Y. Anh không có sử dụng sim số này nhắn tin giao dịch liên quan đến việc mua bán số đề với bị cáo Y. Việc bị cáo T1 sử dụng sim số này liên lạc với bị cáo Y thì anh hoàn toàn không biết.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng Văn P trình bày: Ông là chủ sử dụng sim số 0385.650.161. Ông là của bị cáo T1 và là cha chồng của bị cáo Y. Ông không có sử dụng sim số này nhắn tin giao dịch liên quan đến việc mua bán số đề với ai. Việc bị cáo Y sử dụng sim số này để giao dịch mua bán số đề thì ông hoàn toàn không biết.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng, các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là sai, các bị cáo đã hối hận, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc L1, Nguyễn Thị Hồng T2, Nguyễn Thị S, Trần Thị N1, Bùi Thị Tuyết H, Lê Thị Q, Nguyễn Thị Đ1, Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1, Bùi Trần Ngọc T3, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị H2, Đoàn Thanh T5 và Huỳnh Văn T6 vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Đồng thời các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, người tiến hành tố tụng khác không có ý kiến gì về sự vắng mặt của những người nêu trên. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên trong vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B (cũ), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Vĩnh Long), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chính, nên vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 16/10/2023 tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay lả xã A, tỉnh Vĩnh Long), Nguyễn Thị Phi Y đã 03 lần đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề cho nhiều đối tượng, trong đó qua Z cho Trần Ngọc L1, Nguyễn Công L, Lê Thị Q, Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị T4, Bùi Trần Ngọc T3, Nguyễn Thị Đ1, qua tin nhắn điện thoại số thuê bao 0385.650.xxx cho Nguyễn Thị S, Đoàn Thanh T5 dựa trên kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N (TP ., Đồng Tháp, Cà Mau), miền T (Phú Yên, Thừa Thiên H3) và miền B với số tiền đánh bạc lần lượt là đài miền N 26.551.500 đồng (tiền bán đề 17.501.500 đồng, tiền trúng đề 9.050.000 đồng), miền T10 11.127.000 đồng (tiền bán đề 7.787.000 đồng, tiền trúng đề 3.340.000 đồng), miền Bắc 13.848.500 đồng; Đồng Minh T1 có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thị Phi Y thông qua việc tính tiền đánh đề và thông báo người chơi trúng đề cho Y với 02 đài miền N số tiền 12.483.000 đồng, đài M3 số tiền 6.631.000 đồng; Nguyễn Công L 02 lần đánh bạc với Y số tiền trên 5.000.000 đồng, cụ thể: đài miền N số tiền 14.691.000 đồng (gồm tiền mua đề 9.441.000 đồng, trúng đề 5.250.000 đồng), đài miền B số tiền 6.498.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 –Vĩnh Long đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Thị Phi Y là người chịu trách nhiệm cao nhất, tiếp đến là Đồng Minh T1 và cuối cùng là Nguyễn Công L.
[5] Về nguyên nhân và hậu quả tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được ăn thua bằng tiền (mua bán số đề) của các bị cáo và các con bạc khác là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và hoàn toàn ý thức được việc đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của các bị cáo xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính và mục đích là nhằm tước đoạt tiền bạc và tài sản của nhau, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, sản xuất. Chính từ ý thức và việc làm sai trái của các bị cáo đã gây ra nhiều tác động xấu trong xã hội, là nguyên nhân kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác phát sinh, gây bất ổn cho xã hội và mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ của hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, nhằm để răn đe giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc làm ổn định, nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mà cần có hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm, để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, mà an tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, các bị cáo hiện đang trực tiếp chăm sóc con nhỏ (bị cáo Y và bị cáo T1 đang trực tiếp nuôi 02 con, lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2018; bị cáo L đang trực tiếp nuôi 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024), HĐXX xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho các bị cáo. HĐXX sẽ xem xét các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 03 cây viết hiệu Thiên Long màu xanh, màu đỏ, màu đen; 01 máy tính hiệu Casio thu giữ của Nguyễn Thị Phi Y; 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 máy tính hiệu Casio màu hồng thu giữ của Trần Ngọc L1; 01 viết bút bi mực màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Hồng T2 do bị cáo Y, bà L1, bà T2 không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng; sim số 0385.650.161 của bị cáo Y; sim số 0862.760.139 của bị cáo T1; sim số 0962.587.824, sim số 0845.871.577 và 0334.181.474 của Trần Ngọc L1; sim số 0348.319.863 của Nguyễn Thị H2; sim số 0345.455.729 của Nguyễn Thị Đ1 là phương tiện liên lạc vào việc đánh bạc và những người này không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 10.360.000 đồng đã thu giữ của vị cáo Y (trong đó có 3.036.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước và 7.000.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp) cần tiếp tục giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số sê ri GR3DM0FYKPGD của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng thu giữ của Đồng Minh T1; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, số seri 0525073410294A và 01 điện thoại đi động hiệu OPPO, số seri: ed90cfb của Trần Ngọc L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A34, màu xanh của Nguyễn Thị H2; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Đ1 do đây là phương tiện dùng vào việc đánh bạc còn giá trị sử dụng và những người này không yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 70.000 đồng thu giữ của bà T2 là tài sản cá nhân của bà T2 và không liên phạm tội nên trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng T2.
- - Đối với số tiền 7.500.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 để đảm bảo việc thi hành án nên tiếp tục tục tạm giữ. Do đó, yêu cầu xin nhận lại của bị cáo không được HĐXX chấp nhận.
- - Đối với số tiền 27.000.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang hành vi đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, do đây là tiền của ông T, bà N và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo Y nên cần trả lại cho ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N.
- - Buộc bị cáo Y giao nộp số tiền đánh bạc tổng cộng là 28.639.000 đồng, trong đó (tiền đánh bạc với Trần Ngọc L1 1.725.000 đồng; với Nguyễn Công L 19.037.000 đồng; với Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 1.539.000 đồng; với Nguyễn Thị Đ1 2.016.000 đồng; với Nguyễn Thị S 1.332.000 đồng; với Lê Thị Q là 2.990.000 đồng);
- - Buộc bị cáo L giao nộp số tiền trúng đề 5.250.000 đồng và số tiền đã nhận bán đề cho Huỳnh Văn T6 là 270.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo L nộp lại tổng cộng là 5.520.000 đồng;
- - Buộc Trần Ngọc L1 giao nộp số tiền đánh bạc 2.888.000 đồng, khấu trừ vào số tiền bị tạm giữ là số tiền 8.500.000 đồng của bà Trần Ngọc L1. Trả lại cho bà L1 số tiền còn lại sau khấu trừ là 5.612.000 đồng;
- - Buộc Đoàn Thanh T5 giao nộp số tiền đánh bạc 2.915.000 đồng;
- - Buộc Bùi Trần Ngọc T3 giao nộp số tiền đánh bạc 2.196.500 đồng;
- - Buộc Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 giao nộp số tiền trúng đề 140.000 đồng;
- - Buộc Lê Thị Q giao nộp số tiền đánh bạc 4.313.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị H2 giao nộp số tiền đánh bạc 2.634.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị Đ1 giao nộp số tiền đánh bạc 560.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị S giao nộp số tiền đánh bạc 675.000 đồng;
- - Buộc Nguyễn Thị T4 giao nộp số tiền đánh bạc 266.500 đồng;
[8] Đối với ông Nguyễn Công T, bà Lê Thị N cho bị cáo Y, T1 sử dụng nơi ở để thực hiện hành vi đánh bạc nhưng ông T, bà N không biết việc các bị cáo sử dụng nơi ở của mình để phạm tội nên không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án.
[9] Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Nguyễn Công L với đài miền T số tiền 3.098.000 đồng và hành vi đánh bạc của các đối tượng Trần Ngọc L1, Lê Thị Q, Nguyễn Thị Đ1, Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1, Bùi Trần Ngọc T3, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị H2, Đoàn Thanh T5, Huỳnh Văn T6, Nguyễn Thị S với số tiền đánh bạc của mỗi đài miền N, miền T và miền B đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên đã bị cơ quan chức năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, đúng quy định pháp luật
[10] Đối với đối tượng tên “T7” và 01 người chơi trong số 46 phơi đề lưu trong thư mục hình ảnh điện thoại nhãn hiệu Iphone XS của Nguyễn Thị Phi Y đánh bạc với bị cáo Y với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng do không xác định được nhân thân lai lịch của 02 người này nên được tách ra xử lý sau.
[11] Đối với những người đánh bạc còn lại có tên “Mới”, “Bà T8”, “Chị L2", "8", "Popo”, “Thới”, “chú T6”, “Dì in”, “2 Kiu” và 45 người khác đánh bạc bằng hình thức ghi phơi đề với bị cáo Y với số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng và qua xác minh không xác định được nhân thân lai lịch những người này nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[12] Đối với Bùi Thị Tuyết H và bà Trần Thị N1 đến gặp Nguyễn Thị Phi Y vào ngày 16/10/2023 nhưng chưa mua số đề và Nguyễn Thị Hồng T2 đến gặp Trần Ngọc L1 nhưng chưa mua số đề thì bị phát hiện nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
[13] Đối với chủ sở hữu sim số thuê bao 0862.760.139 là ông Lý Gia K do ông không biết bị cáo Đồng Minh T1 dùng sim điện thoại có số thuê bao nêu trên của ông để thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án.
[14] Đối với chủ sở hữu sim số thuê bao 0385.650.161 là ông Đồng Văn P do ông không biết bị cáo Nguyễn Thị Phi Y dùng sim điện thoại có số thuê bao nêu trên của ông để thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án.
[15] Đối với với qua điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[16] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, Đồng Minh T1 và Nguyễn Công L phạm tội “Đánh bạc”.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phi Y số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đồng Minh T1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công L số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 03 cây viết hiệu Thiên Long màu xanh, màu đỏ, màu đen; 01 máy tính hiệu Casio thu giữ của Nguyễn Thị Phi Y; 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 máy tính hiệu Casio màu hồng thu giữ của Trần Ngọc L1; 01 viết bút bi mực màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Hồng T2 do bị cáo Y, bà L1, bà T2 không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng; sim số 0385.650.161 của bị cáo Y; sim số 0862.760.139 của bị cáo T1; sim số 0962.587.824, sim số 0845.871.577 và 0334.181.474 của Trần Ngọc L1; sim số 0348.319.863 của Nguyễn Thị H2; sim số 0345.455.729 của Nguyễn Thị Đ1 là phương tiện liên lạc vào việc đánh bạc và những người này không yêu cầu nhận lại.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền 3.060.000 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y dùng vào việc đánh bạc và tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của bị cáo Y để đảm bảo việc thi hành án.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, số sê ri GR3DM0FYKPGD của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng thu giữ của Đồng Minh T1; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh, số seri 0525073410294A và 01 điện thoại đi động hiệu OPPO, số seri: ed90cfb của Trần Ngọc L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A34, màu xanh của Nguyễn Thị H2; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị Đ1 do đây là phương tiện dùng vào việc đánh bạc còn giá trị sử dụng và những người này không yêu cầu nhận lại.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng T2 số tiền 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của bà T2 là tài sản cá nhân của bà T2 và không liên phạm tội.
- Trả lại số tiền 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng) cho ông Nguyễn Công T và bà Lê Thị N thu giữ khi bắt quả tang hành vi đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị Phi Y.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo T1 để đảm bảo việc thi hành án.
- Buộc bị cáo Y giao nộp số tiền đánh bạc tổng cộng là 28.639.000 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng), trong đó (tiền đánh bạc với Trần Ngọc L1 1.725.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng); với Nguyễn Công L 19.037.000 đồng (Mười chín triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng); với Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 1.539.000 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng); với Nguyễn Thị Đ1 2.016.000 đồng (Hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng); với Nguyễn Thị S 1.332.000 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi hai nghìn đồng); với Lê Thị Q là 2.990.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- Buộc bị cáo L giao nộp số tiền trúng đề 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền đã nhận bán đề cho Huỳnh Văn T6 là 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổng cộng buộc bị cáo L nộp lại Ngân sách nhà nước tổng cộng là 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
- Buộc Trần Ngọc L1 giao nộp số tiền đánh bạc 2.888.000 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước, khấu trừ vào số tiền bị tạm giữ là số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) của bà Trần Ngọc L1. Trả lại cho bà L1 số tiền còn lại sau khấu trừ là 5.612.000 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
- Buộc Đoàn Thanh T5 giao nộp lại số tiền đánh bạc 2.915.000 đồng (Hai triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Bùi Trần Ngọc T3 giao nộp lại số tiền đánh bạc 2.196.500 đồng (Hai triệu một trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1 giao nộp lại số tiền trúng đề 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Lê Thị Q giao nộp lại số tiền đánh bạc 4.313.000 đồng (Bốn triệu ba trăm mười ba nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Nguyễn Thị H2 giao nộp lại số tiền đánh bạc 2.634.000 đồng (Hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Nguyễn Thị Đ1 giao nộp lại số tiền đánh bạc 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Nguyễn Thị S giao nộp lại số tiền đánh bạc 675.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) vào Ngân sách nhà nước.
- Buộc Nguyễn Thị T4 giao nộp lại số tiền đánh bạc 266.500 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng) vào Ngân sách nhà nước.
(Theo Ủy nhiệm chi ngày 15/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Phi Y, Đồng Minh T1 và Nguyễn Công L mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Triều |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do động cơ tư lợi bất chính, nên vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 16/10/2023 tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay lả xã A, tỉnh Vĩnh Long), Nguyễn Thị Phi Y đã 03 lần đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề cho nhiều đối tượng, trong đó qua Z cho Trần Ngọc L1, Nguyễn Công L, Lê Thị Q, Huỳnh Trương Ngọc Kiều H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị T4, Bùi Trần Ngọc T3, Nguyễn Thị Đ1, qua tin nhắn điện thoại số thuê bao 0385.650.161 cho Nguyễn Thị S, Đoàn Thanh T5 dựa trên kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N (TP ., Đồng Tháp, Cà Mau), miền T (Phú Yên, Thừa Thiên H3) và miền B với số tiền đánh bạc lần lượt là đài miền N 26.551.500 đồng (tiền bán đề 17.501.500 đồng, tiền trúng đề 9.050.000 đồng), miền T10 11.127.000 đồng (tiền bán đề 7.787.000 đồng, tiền trúng đề 3.340.000 đồng), miền Bắc 13.848.500 đồng; Đồng Minh T1 có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thị Phi Y thông qua việc tính tiền đánh đề và thông báo người chơi trúng đề cho Y với 02 đài miền N số tiền 12.483.000 đồng, đài M3 số tiền 6.631.000 đồng; Nguyễn Công L 02 lần đánh bạc với Y số tiền trên 5.000.000 đồng, cụ thể: đài miền N số tiền 14.691.000 đồng (gồm tiền mua đề 9.441.000 đồng, trúng đề 5.250.000 đồng), đài miền B số tiền 6.498.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 –Vĩnh Long đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
