TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HS-ST
Ngày 04/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dư Thị Út
- Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Tuấn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/01/2005 tại Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đàm Tiến D, sinh năm: 1982 và bà Nông Mỹ L, sinh năm: 1984; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2024 đến ngày 25/9/2024 khởi tố bị can và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đàm Tuấn Đ bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2024. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 16/9/2024, do muốn sử dụng ma túy nên Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94B1 - 516.37 đi từ xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu đến thành phố B để mua ma túy. Đ điều khiển xe vào hẻm không số, đường H, khóm F, phường G, thành phố B gặp người nam thanh niên mua một bịch ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó Đ cất giấu bịch ma túy vào trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe đi về phòng trọ để sử dụng. Khi đến đường V, khóm D, phường G, thành phố B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín, có nẹp miệng, gần nẹp miệng có đường viền màu đỏ, kích thước 1,5cm x 02cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan.
Kết luận giám định số: 113/KL-KTHS ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,13084 gam.”
Cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Đàm Tuấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Đàm Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đàm Tuấn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- + Về xử lý vật chứng:
- + Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- + Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đàm Tuấn Đ, Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
- - Bị cáo Đàm Tuấn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.
Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,10551 gam, loại Methamphetamine chứa trong 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chữ ký dấu tên Bùi Nghi E và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B cùng dòng chữ “113/GĐMT-2024” cùng toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói nilon do là vật cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng bị cáo L1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh: Vào lúc 12 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại đường V, khóm D, phường G, thành phố B, bị cáo Đàm Tuấn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng là 0,13084 gam, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đàm Tuấn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là thanh niên, có sức khỏe, lẽ ra phải chí thú làm ăn để lo cho bản thân và gia đình, nhưng lại sa vào con đường nghiện hút dẫn đến phạm tội. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đàm Tuấn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Đối với người thanh niên tên bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- [6.1] Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,10551 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ gói nylon được chứa trong phong bì ghi “113/GĐMT-2024” do là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- [6.2] Đối với một xe mô tô biển kiểm soát 94B1 - 516.37 là của của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông H là phù hợp.
[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Đ, Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.
[9] Về án phí: Bị cáo Đàm Tuấn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Đàm Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đàm Tuấn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ là ngày 16 tháng 9 năm 2024. - Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,10551 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu. - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Đàm Tuấn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hồng Trinh |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Tuấn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy
