Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 02/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hồng Điệp

Ông Nguyễn Thanh Rực

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến-Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 04/9/1987; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Căn cước công dân số: [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 09/8/2021; Nơi cư trú: Số D đường M, Khóm F, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Đỗ Thị T; Có chồng và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 28/5/2023 bị Chủ tịch U (nay là Phường A), thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC, bị cáo nộp phạt ngày 11/9/2023 đến lần phạm tội này ngày 30/4/2024 chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/9/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1981; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  3. Ông Võ Thành T1, sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 55 phút ngày 30/4/2024, Công an xã C, huyện L tiến hành kiểm tra, phát hiện các đối tượng đang có hành vi đánh bạc trái phép với hình thức chơi lắc bầu cua được, thua bằng tiền. Các đối tượng gồm: Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Thanh T2, Trần Văn C, Nguyễn Văn L và Võ Thành T1. Đồng thời, thu giữ tại chiếu bạc: Tiền Việt Nam 300.000 đồng; 03 hột bầu cua; 01 tờ giấy, trên tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu; 01 thau nhựa màu xanh; 01 nắp đậy bằng nhôm; 01 túi nylon màu đen, loại hai quai xách; Tạm giữ trên người những người bị bắt: Nguyễn Thị Hồng N là 1.000.000 đồng và Phạm Thanh T2 là 130.000 đồng.

Quá trình xác minh, điều tra xác định: vào ngày 30/4/2024, N đi từ thành phố S đến ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng để uống rượu cùng với ông Võ Thành T1, Trần Văn C, Phạm Thanh T2, Nguyễn Văn L và một số người khác. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, N muốn đánh bạc thắng thua bằng tiền nên rủ những người uống rượu chung tham gia đánh bạc với N nhưng những người này không đồng ý vì sợ bị lực lượng Công an bắt. Mặc dù không ai đồng ý tham gia đánh bạc nhưng N vẫn đi đến chợ T3 (thuộc xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng) để mua một bộ dụng cụ dùng để lắc bầu cua gồm một bộ bầu cua, một thau nhựa, một nắp đậy bằng nhôm tổng số tiền 50.000 đồng. Sau đó, N đi đến một khu vực trống cách vị trí uống rượu ban đầu khoảng 50 mét rồi đem các dụng cụ ra và ngồi một mình. Lúc sau, T2, C đi về nhà, đi qua chỗ N ngồi và L bán vé số kiến thiết đi đến. N tiếp tục rủ L, T2, C chơi lắc bầu cua cùng với N nhưng L, T2, C không tham gia, nên N nói với L “tôi mua cho ông hai tờ vé số, ông đặt cho tôi 10.000 đi” thì L bán cho N hai tờ vé số, N trả cho L 20.000 đồng, L lấy 10.000 đồng đặt xuống ô vuông có hình con gà. Sau đó, N cầm hộp (gồm thau nhựa có chứa 03 (ba) hột bầu cua và nắp đậy) đưa lên lắc nhưng chưa mở kết quả thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà những người tham gia dùng đánh bạc trái phép là 1.070.000 đồng, trong đó: tại hiện trường số tiền 70.000 đồng (Nguyễn Văn L 10.000 đồng, Nguyễn Thị Hồng N 60.000 đồng), thu giữ trên người Nguyễn Thị Hồng N 1.000.000 đồng; Nguyễn Thị Hồng N bị thu giữ số tiền 230.000 đồng tại hiện trường, dùng để tiêu xài cá nhân, không dùng để đánh bạc; Phạm Thanh T2 bị thu giữ số tiền 130.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép nhưng chưa tham gia thì bị bắt.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS-LP ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 và điểm đ Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi công khai Kiểm sát viên rút lại một phần truy tố đối với bị cáo N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên một phần quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Đánh bạc".

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 05 tháng tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 03 hột bầu cua, một hột có sáu mặt, các mặt được in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu; 01 tờ giấy, trên tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà nai, bầu; 01 thau nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 nắp đầy bằng nhôm; 01 túi nylon màu đen, loại hai quai xách, đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam là 1.070.000 đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai cho bị cáo. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, sau khi kết thúc việc xét hỏi thì Kiểm sát viên rút một phần truy tố đối với bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, việc rút một phần truy tố nêu trên của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên căn cứ vào Điều 319, Điều 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần truy tố nêu trên và chỉ xem xét, xét xử đối với tội danh mà Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Nhằm thỏa mãn việc đánh bạc thắng thua, sát phạt lẫn nhau nên vào khoảng 15 giờ ngày 30/4/2024, tại khu vực đất trống thuộc ấp N, xã C, huyện L, bị cáo đã cùng với L thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi lắc bầu cua được thua bằng tiền thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và tiền trên người của bị cáo dùng để bạc là 1.070.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù tổng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như mới đủ sức răn đe bị cáo nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.

[4]. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, nhưng có 01 lần tiền sự như phần lý lịch đã nêu.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cha của bị cáo là thương binh. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Thấy rằng, do bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo phạm tội không mang tính chuyên nghiệp, quy mô. Do đó, khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng Khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để cho bị cáo được hưởng phần hình phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo cũng là phù hợp.

[5]. Đối với Phạm Thanh T2, Trần Văn C, Võ Thành T1 không tham gia đánh bạc trái phép nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Văn L có hành vi đánh bạc trái phép cùng với bị cáo N nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên đã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.

[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 03 hột bầu cua; 01 tờ giấy, trên tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà nai, bầu; 01 thau nhựa; 01 nắp đậy bằng nhôm; 01 túi nylon màu đen là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền Việt Nam là 1.070.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[7]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức trung bình như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Đánh bạc”.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án: căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 03 hột bầu cua, một hột có sáu mặt, các mặt được in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu; 01 tờ giấy, trên tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà nai, bầu; 01 thau nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 nắp đầy bằng nhôm; 01 túi nylon màu đen, loại hai quai xách, đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam là 1.070.000 đồng.

(Theo Phiếu Nhập Kho số NK20 và Biên lai thu tiền số 0000554 cùng ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng)

3. Về án phí sơ thẩm: căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Sóc Trăng (PV06);
  • - CQTHAHS-CA tỉnh Sóc Trăng (PC10);
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND Phường A, thành phố S;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 02/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng N can tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger