Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-PT

Ngày 13-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Hưng.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa và bà Đoàn Thị Hương Nhu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo Đào Văn P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Đào Văn P, sinh năm 1988 tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Văn N, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1965; Có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến ngày 25/10/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1973. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị T1, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. (Là vợ của bị hại) vắng mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng: Chị Vũ Thị H, anh Bùi Văn M, ông Hà Văn N1, anh Phạm Văn B (Chị H, anh M, ông N1, anh B đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

1

án được tóm tắt như sau:

Đào Văn P có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AM 580754 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 01/12/2009. Khoảng hơn 18 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, sau khi tan làm tại công ty K1, địa chỉ: phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B2-830.79, xe đăng ký tên bị cáo đi từ công ty ra đường Q đi theo hướng từ huyện G đi huyện N về phía cầu C để về nhà tại xã H, huyện T. Khi tham gia giao thông bị cáo P có đội mũ bảo hiểm theo đúng quy định. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô nêu trên đi qua đoạn đường Q thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. P đi ở phần đường bên phải theo hướng đi từ Ủy ban nhân dân xã V đi cầu C là đoạn đường thẳng hai chiều không có dải phân cách, có vạch sơn màu vàng đứt đoạn (vạch 1.1) để phân chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, ở mỗi đường xe chạy có vạch sơn màu trắng đứt đoạn (vạch 2.1) để phân chia 02 làn xe chạy cùng chiều, bề rộng mỗi làn xe chạy tính từ mép đường đến vạch 1.1 lần lượt là 350 cm, 200 cm. Tại hai bên mép đường có vạch sơn liền màu trắng rộng 20cm. Mặt đường bằng phẳng được trải bê tông nhựa có bề rộng là 1.100cm. P đi cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 130-200 cm với tốc độ khoảng 40-50 km/h. Lúc này, có một số xe mô tô (không xác định được xe do ai điều khiển) đi ngược chiều với hướng đi của P bật đèn chiếu sáng phía trước ở chế độ chiếu xa, khiến tầm nhìn của P bị hạn chế (do P đội mũ bảo hiểm kín cằm, kéo kính mũ bảo hiểm qua mắt, khi bị ánh sáng đèn xe mô tô chiếu vào làm cho P bị quáng mắt nhưng P vẫn điều khiển xe đi thẳng về phía trước với tốc độ khoảng 40 km/h- 50km/h). P nhìn thấy ở phía trước cách đầu xe mô tô của P khoảng 03 mét là ông Phạm Văn V đi bộ điều khiển máy cày (dạng máy cày loại nhỏ điều khiển bằng hai tay cầm vào hai càng nối liền với đầu máy), không có tín hiệu báo rẽ, không dán phản quang trên người và máy cày đang đi chếch chéo theo hướng UBND xã V đi cầu C để sang đường. Lúc này, ông V bắt đầu đánh lái chuyển hướng máy cày vòng bên trái, người xoay theo, mặt quay về phía cầu C, lưng hướng UBND xã V và máy cày đã ở vị trí dọc theo đường Q, đầu máy cày hướng về cầu C, hai càng hướng về UBND xã V. Do khoảng cách gần nên P chỉ kịp đánh lái sang trái để tránh nhưng không tránh được nên phần đầu xe mô tô của P va chạm vào phần lưng bên trái của ông V. Vị trí xảy ra va chạm nằm ở phần đường bên phải theo hướng đi của P và ông V cách mép đường bên phải theo hướng đi của hai người này khoảng 150 cm, phần đầu xe mô tô, khu vực cụm đèn chiếu sáng xe mô tô do P điều khiển va chạm từ phía sau vào khu vực lưng bên trái của ông V cách mép đường bên phải 150 cm, cách cột mốc km 28+500 là 3450 cm; Vị trí P bị ngã trên mặt đường sau khi xảy ra va chạm cách mép đường bên phải khoảng 450 cm, cách vị trí va chạm về phía đi cầu Ràm khoảng 700 cm, sau khi

2

xảy ra va chạm xe mô tô đeo biển kiểm soát 34B2-830.79 đổ trượt trên mặt đường theo hướng đi, vị trí ông V nằm ở lề đường bên phải của lối đi ra cánh đồng xã V cách mép đường khoảng 100 cm, cách cột km 28+500 về phía đi cầu Chanh khoảng 3130 cm. Đầu ông V hướng về phía đi cầu Ràm, chân hướng về phía đi cầu C; máy cày cách mép đường bên phải 130 cm, cách cột mốc km 28+500 là 3450 cm; xe mô tô đeo biển kiểm soát 3482-830.79 đổ trượt trên mặt đường theo hướng đi.

Sau va chạm, P ngã văng về phía trước theo hướng đi của P khoảng 700 cm, nằm sấp tại vị trí gần giữa tâm đường, cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 450 cm, đầu hướng về cầu C, chân hướng về UBND xã V rồi ngồi dậy tại vị trí này. Hậu quả: Ông Phạm Văn V bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện N sau chuyển cấp cứu tại bệnh viện H1 - Hà Nội, tỷ lệ thương tích của ông V là 81% (Tám mươi mốt phần trăm), P bị sây sát nhẹ, chấn thương phần mềm, P gọi điện cho vợ là chị Vũ Thị H đến đón về nhà, sau đó điện thoại cho anh Bùi Văn M, sinh năm 1990 ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương (là bạn ngoài xã hội của P) nhờ chở đi khám, chiểu chụp tại Trung tâm Y tế huyện N, tỷ lệ thương tích là 02%. Tại Trung tâm Y tế huyện N, P có gặp ông V nên nhờ anh Bùi Văn M đến hỏi thông tin, địa chỉ của ông V, mục đích để sau khi cấp cứu xong sẽ đến hỏi thăm, chịu trách nhiệm bồi thường. Anh Bùi Văn M gặp bà Hà Thị T1 (là vợ ông V); ông Phạm Văn B, sinh năm 1976 (là em ruột ông V) và anh Phạm Văn T2, sinh năm 2002 (là cháu ông V) đều ở thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương hỏi thông tin địa chỉ của ông V, ông B và anh T2 cung cấp thông tin cho anh M, sau đó M về bảo lại cho P nắm được thông tin. Khi chụp chiếu xong, xác định thương tích của P không nghiêm trọng chỉ chấn thương phần mềm nên P không nằm viện mà về nhà điều trị. Khi về đến nhà, vợ và bố đẻ P là chị Vũ Thị H và ông Đào Văn N đã thông báo cho P biết việc đã mang xe mô tô của P tại hiện trường tai nạn về sửa tại quán sửa chữa xe mô tô Phạm K; địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương và bảo với P: “Khi nào đi làm thì ra quán P1 để lấy xe". P không bảo chị H, ông N lấy xe mô tô về sửa chữa chỉ khi khám chữa tại Trung tâm Y tế huyện N về mới được biết.

Tại Bản kết luận giám tổn thương cơ thể trên người sống số 335/KLTTCT ngày 09/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh H xác định: Chấn thương gây vỡ ruột non (hỗng tràng), đụng dập hoại tử đoạn cuối hồi tràng, đụng dập gan, chấn thương lách, chấn thương thận phải, chấn thương thận vỡ thận trái, đứt niệu quản trái, viêm phúc mạc. Được mổ hai lần (cắt đoạn ruột non hỗng tràng nối tận tận, khâu thận trái, khâu nối niệu quản, gỡ dính, cắt đoạn ruột hồi manh tràng, làm hậu môn nhân tạo). Hiện ổn định còn hậu môn nhân tạo, dẫn lưu hạ sườn phải, để lại 05 sẹo mổ, dẫn lưu vùng bụng, hạ sườn trái, hạ sườn phải kích thước trung bình và nhỏ,

3

sẹo mở khí quản vùng trước cổ kích thước nhỏ; Chấn thương gây gãy xương sườn 8,9,10 bên trái và 9,10,11 bên phải, dịch màng phổi hai bên, khí màng phổi phải, được mở dẫn lưu màng phổi trái. Hiện ổn định để lại sẹo dẫn lưu vùng ngực trái kích thước nhỏ. Kết luận: Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Văn V tại thời điểm giám định là: 81% (Tám mươi mốt phần trăm).

Tại Bản kết luận giám tổn thương cơ thể trên người sống số 403/KLTTCT ngày 01/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh H xác định: 02 sẹo vết thương phần mềm vùng mu bàn chân trái kích thước nhỏ; 06 vết thẫm màu vùng mỏm trước vai trái, mặt trên đốt 1 ngón I tay phải, mặt trên ô mô cánh tay phải, mặt trước gối trái, mặt trước 1/3 dưới đùi trái, mặt trước 1/3 dưới đùi phải. Kết luận: Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đào Văn P tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đào Văn P và gia đình đã thăm hỏi, tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi năm triệu đồng bao gồm toàn bộ thiệt hại về tổn thất tinh thần, chi phí cấp cứu điều trị và các khoản bồi thường khác). Bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Đào Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Đào Văn P 12 (mười hai) tháng tù, được trừ 32 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 28 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Ngoài ra bản án về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 30/12/2024, bị cáo Đào Văn P kháng cáo đề nghị được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ tại địa phương.

Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt, xử phạt bị cáo 12 tháng tù, được trừ đi 32

4

ngày tạm bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 28 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung: Bị cáo Đào Văn P là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, Đào Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B2-830.79, đi một mình, có đội mũ bảo hiểm trên đường QL37 hướng UBND xã V (trong tình trạng không sử dụng rượu, bia, chất kích thích khác). Khi đến khu vực km 28 + 524,1 đường QL37 thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế và có chướng ngại vật trên đường nên để xảy ra va chạm từ phía sau vào ông Phạm Văn V đi bộ điều khiển máy cày (dạng máy cày loại nhỏ điều khiển bằng hai tay cầm hai càng nối liền với đầu máy cày) không có tín hiệu báo hướng rẽ, đang chuyển hướng đi chếch chéo sang đường ở phía trước. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau khi gây ra tai nạn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho bị hại, bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Mặt khác, bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông đường bộ, chuyển hướng sang đường không có tín hiệu báo rẽ, không nhường đường cho các phương tiện theo hướng ngược chiều để xảy ra tai nạn nên HĐXX xác định bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, HĐXX xác định cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với mức hình phạt 12 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm. Đây là tình tiết mới của bị cáo tuy nhiên cấp sơ thẩm đã xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt nên không có căn cứ giảm nhẹ thêm cho bị cáo. Nhưng do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhân thân tốt, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi 1 phần

5

nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ những phân tích trên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm. HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS; khoản 1 khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với Đào Văn P.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Đào Văn P.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Đào Văn P 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA
Phạm Thị Mai Hoa Bùi Thế Hưng
Đoàn Thị Hương Nhu

7

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • -Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - TAND, VKSND huyện Ninh Giang;
  • - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thế Hưng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 24/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Văn P là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, Đào Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B2-830.79, đi một mình, có đội mũ bảo hiểm trên đường QL37 hướng UBND xã V (trong tình trạng không sử dụng rượu, bia, chất kích thích khác). Khi đến khu vực km 28 + 524,1 đường QL37 thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế và có chướng ngại vật trên đường nên để xảy ra va chạm từ phía sau vào ông Phạm Văn V đi bộ điều khiển máy cày (dạng máy cày loại nhỏ điều khiển bằng hai tay cầm hai càng nối liền với đầu máy cày) không có tín hiệu báo hướng rẽ, đang chuyển hướng đi chếch chéo sang đường ở phía trước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger