|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 24/2025/HS-PT Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán:
- Bà Bùi Thị Bích Liễu;
- Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Phước Trần Thị Hồng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Phước Trần Thị Hồng N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1979, tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Số F đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Số B đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Lê Thị V; có chồng (đã ly hôn) và có 02 (hai) người con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2017/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Lê Phước Trần Thị Hồng N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12 tháng 5 năm 2020.
Nhân thân: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Trần Thị Bích N1, sinh năm: 1992; nơi thường trú: Số B đường C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Căn hộ F chung cư C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa..
Vắng mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1948; nơi cư trú: Số A đường H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Văn Đức T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số I đường C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Phước Trần Thị Hồng N là bạn bè ngoài xã hội với bà Trần Thị Bích N1. Biết chồng bà N1 là ông Nguyễn Mạnh T1 đang bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội “Môi giới mại dâm” nên vào khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 7 năm 2019, khi đang uống café trước chung cư C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, N hỏi bà N1 vụ án ông T1, bà N1 nói Viện kiểm sát đã đưa cáo trạng rồi. Lúc đó, N nói để N gọi điện thoại hỏi coi thử có “chạy án" được cho chồng bà N1 không thì bà N1 đồng ý để N nhờ người “giúp đỡ”. N đứng dậy ra khỏi quán café gọi điện thoại cho bà Bùi Thị L, sau đó đi vào nói với bà N1 là đã nhờ được người đứng ra “chạy án” cho ông T1.
Đến khoảng 8 giờ ngày 07 tháng 8 năm 2019, N gọi điện thoại cho bà N1 yêu cầu bà N1 đưa 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để gặp gỡ, giao dịch với những người có thẩm quyền giải quyết vụ án của chồng bà N1. Đến ngày 08 tháng 8 năm 2019, N tiếp tục yêu cầu bà N1 đưa thêm 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và nói giá “chạy án” là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Bà N1 nói “Sao rẻ quá vậy" thì N nói để N hỏi lại. Đến 13 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại cho bà N1 nói giá chạy án cho chồng bà N1 là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), nếu không “chạy án” được thì N sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bà N1.
Ngày 18 tháng 8 năm 2019, N hẹn gặp bà N1, ông T1 và bà Võ Thị Diễm T2 (mẹ đẻ của bà N1) để nhận 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) là tiền đặt cọc để “chạy án". Ngày 24 tháng 8 năm 2019, N tiếp tục hẹn gặp bà N1 tại quán C trên đường T, thành phố N và nói bà N1 đưa thêm 02 phong bì, trong đó có 01 phong bì đựng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và 01 phong bì đựng 100 USD (tương đương 2.312.700 đồng – hai triệu ba trăm mười hai nghìn bảy trăm đồng, quy đổi theo tỷ giá hối đoái ngày 24 tháng 8 năm 2019 do Ngân hàng N2 công bố là 23.127đồng/USD). N nói số tiền trên đưa cho Cơ quan Công an và Viện kiểm sát. Ngày 29 tháng 8 năm 2019, N nói bà N1 đưa thêm cho N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), trong đó 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là tiền “phát sinh" và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) còn lại là tiền “đặt cọc” thêm, đồng thời tiếp tục hứa hẹn sẽ “chạy trắng án" cho ông T1. Vào các ngày 20 và 21 tháng 9 năm 2019, N tiếp tục gọi bà N1 yêu cầu N1 đưa thêm 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để gửi Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, nhờ chỉ cách khai trước tòa.
Tổng cộng N đã nhận của bà N1 gồm tiền Việt Nam và USD có tổng trị giá 77.312.700 đồng (bảy mươi bảy triệu ba trăm mười hai nghìn bảy trăm đồng).
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử, tuyên phạt ông Nguyễn Mạnh T1 04 năm 06 tháng về tội “Môi giới mại dâm”, bà N1 gọi điện thoại cho N nhiều lần để đòi lại tiền nhưng N tắt điện thoại. Đến ngày 26 tháng 10 năm 2019, bà N1 đến Công an phường V trình báo sự việc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm g và h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt Lê Phước Trần Thị Hồng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, bị cáo kháng cáo xin được giảm hình phạt và xem xét về trách nhiệm hình sự của bà Bùi Thị L.
Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo về hình phạt và đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra xem xét trách nhiệm hình sự của bà Bùi Thị L, vì: Những thông tin mà bị cáo đưa ra cho bà N1 là do bà L chỉ đạo, số tiền nhận được của bà N1 bị cáo cũng đã chuyển lại cho bà L phần lớn. Bị cáo có giữ lại 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đóng tiền học cho con, nhưng sau đó cũng đưa tiếp cho bà L 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chỉ còn giữ lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
1.1 Kháng cáo của bị cáo Lê Phước Trần Thị Hồng N được thực hiện trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
1.2 Tòa án đã triệu tập bị hại Trần Thị Bích N1 và người làm chứng Bùi Thị L tham gia phiên tòa nhưng những người này đều vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Mặc khác, sự vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ các Điều 351 và 352 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo:
2.1 Về kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Lê Phước Trần Thị Hồng N mặc dù cho rằng bị cáo không có ý thức đưa ra những thông tin không có thật để lừa dối bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng cũng đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác trong vụ án cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Do có quan hệ quen biết với bị hại Trần Thị Bích N1, biết bà N1 có chồng là ông Nguyễn Mạnh T1 đang bị điều tra, truy tố về tội “Môi giới mại dâm” N đã hứa với bà N1 sẽ “chạy trắng án” cho ông T1 mặc dù bị cáo hoàn toàn không có khả năng này. Tiếp đến, trong khoảng thời gian từ ngày 07 tháng 8 năm 2019 đến ngày 21 tháng 9 năm 2019, N đưa ra nhiều thông tin không có thật để chiếm đoạt tiền của bà N1 như: Cần đi gặp, giao dịch với người có thẩm quyền giải quyết vụ ông T1, cần đặt cọc để “chạy án”, đưa tiền cho Công an và Viện kiểm sát, Tòa án nhờ chỉ cách khai trước Tòa; đặc cọc thêm ..... tin lời bị cáo bà N1 đã nhiều lần đưa tiền cho bị cáo bao gồm tiền Việt Nam và USD với tổng trị giá là 77.312.700 đồng (bảy mươi bảy triệu ba trăm mười hai nghìn bảy trăm đồng). Những hành vi đó của bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Bản thân bị cáo đang có án tích, trong khi đang được hoãn chấp hành hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2017/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thì lại tiếp tục phạm tội nhiều lần. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2.2 Về kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với bà Bùi Thị L.
Theo lời khai của bị cáo, toàn bộ các thông tin mà bị cáo đưa ra cho bà N1 đều do bà Bùi Thị L chỉ dẫn cho bị cáo, toàn bộ số tiền nhận của bà N1 bị cáo cũng chuyển hết phần lớn cho bà L để giúp bà N1 nên bà L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cùng với bị cáo nhưng chưa được điều tra làm rõ.
Hội đồng xét xử thấy:
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm lần thứ nhất tại Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2022/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã nhiều lần trả hồ sơ để xem xét vai trò của bà L. Khi xét xử phúc thẩm lần thứ nhất tại Bản án hình sự phúc thẩm số 49/2023/HS-PT ngày 04 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2022/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2022 để tiếp tục điều tra, xem xét trách nhiệm của bà L. Tuy nhiên, kết quả điều tra không chứng minh được tính xác thực trong lời khai của bị cáo.
- Mặc khác, theo lời khai của bị hại có trong hồ sơ và được bị cáo thừa nhận, bà N1 chỉ gặp, nhận thông tin đưa tiền trực tiếp cho bị cáo, các tin nhắn về việc “đưa” “đưa tiền cho Công an, Viện kiểm sát, Tòa án”, ông T1 đã được hạ khung từ khung 2 xuống khung 1 ... (bút lục từ 32 đến 59, từ 121 đến 123) đều do bị cáo trực tiếp nhắn tin và trao đổi với bị hại. Bị cáo N còn không cho bà N1 gặp người chạy án (bút lục 12).
- Có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, ông Văn Đức T xác nhận có nhận của bị cáo hai lần tiền, một lần 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và một lần 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đưa cho bà L. Sau mỗi lần nhận tiền, bà L có đưa tờ giấy viết tay bày ông T1 chối tội tại phiên tòa. Về tình tiết này, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa bà L và ông T thì bà L không thừa nhận việc nhận tiền của ông T; không thừa nhận việc nhận lời chạy án cho T1 mà do N nài nỉ nên viết giúp lời khai không nhận tội cho ông T1. Về hai tờ giấy viết tay mà ông T nhận từ bà L, có lúc ông T khai không biết nội dung viết gì (bút lục 244) có lúc ông T khai có đọc lại nên biết nội dung là bày khai (bút lục 386). Về cùng một sự việc nhưng ông T khai trước sau không thống nhất nên chưa đảm bảo tính chính xác. Ngoài ra, ông T còn khai bà L có nhờ ông chở qua Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang hai lần và Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang một lần nhưng đều không biết bà L gặp ai, làm gì. Như vậy, không thể căn cứ lời khai của ông T để xác định sự liên quan giữa bà L với hành vi phạm tội của bị cáo đối với bà N1.
Do đó, việc bị cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là không có cơ sở.
[3]. Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Phước Trần Thị Hồng N;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm g và h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Phước Trần Thị Hồng N,
- - Xử phạt bị cáo Lê Phước Trần Thị Hồng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 02 năm 2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |
Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 24/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phước Trần Thị Hồng Nga: Lừa đảo
