Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 24/2025/HS-PT

Ngày 16 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thúy
Ông Nguyễn Quang Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện cho bị cáo Trần Trịnh T là bà Nguyễn Thị X đối với Bản án hình sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

  1. Bị cáo kháng cáo: Trần Trịnh T, (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/11/2006 (đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 15 ngày), tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Trần Ngọc H (Đã chết), con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1979.
    • - Tiền án; Tiền sự: Không.
    • - Nhân thân: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 11/7/2024, chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).

  2. Người đại diện cho bị cáo Trần Trịnh T kháng cáo: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  3. Người bào chữa cho bị cáo Trần Trịnh T: Bà Phạm Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 01/7/2024, Trần Trịnh T, sinh ngày 16/11/2006 (17 tuổi 7 tháng 15 ngày), trú tại: Khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/02/2007 (17 tuổi 05 tháng 0 ngày), trú tại: Khu T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 19/7/2007 (16 tuổi 11 tháng 12 ngày); Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 17/7/2008 (15 tuổi 11 tháng 14 ngày), đều trú tại: Khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Vũ Minh T3, sinh ngày 09/01/2008 (16 tuổi 05 tháng 22 ngày), trú tại: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Đỗ Đào Duy K, sinh ngày 19/4/2006 (18 tuổi 02 tháng 12 ngày); Đào Phương N1, sinh ngày 08/12/2007 (16 tuổi 06 tháng 23 ngày); Lê Hồng S sinh ngày 03/12/2008 (15 tuổi 06 tháng 28 ngày), đều trú tại: khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Hà Tiến Đ, sinh ngày 27/6/2006 (18 tuổi 0 tháng 04 ngày); Hà Mạnh D1, sinh ngày 15/9/2008 (15 tuổi 09 tháng 16 ngày), đều trú tại: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Hoàng Thành C, sinh ngày 20/01/2007 (17 tuổi 05 tháng 11 ngày), trú tại: Khu H, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Trần Duy T4, sinh ngày 02/10/2007 (16 tuổi 08 tháng 29 ngày), trú tại: Khu T, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Trung N2, sinh ngày 18/7/2006 (17 tuổi 11 tháng 13 ngày); Hoàng Quốc T5, sinh ngày 20/02/2008 (16 tuổi 04 tháng 11 ngày), đều trú tại: Khu B, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, tụ tập ở quán “-a 888” thuộc thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ để chơi. Tại đây, T rủ các đối tượng cùng đi xuống thành phố V để tìm đánh những thanh niên ngổ ngáo, đi xe không biển kiểm soát, không đội mũ bảo hiểm, tất cả đều đồng ý. Nghiệp rủ T3 đi về nhà N ở xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ để lấy 02 thanh kiếm dạng kiếm Nhật có lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, 01 thanh kiếm dài 62cm, 01 thanh kiếm dài 56cm. T3 và N mỗi người cầm 01 thanh kiếm, rồi tập trung cùng các đối tượng để đi xuống thành phố V. Khi đi, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không lắp biển số chở N; Nguyễn Mạnh D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng không lắp biển số chở T3; K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than không lắp biển số chở N1; Đ điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than không lắp biển số chở Hà D1; T2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda SH mode màu đen không lắp biển số chở C và T4; N2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu cam không lắp biển số chở T5; S điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen không lắp biển số đi một mình. Khi đi đến khu vực cổng chào huyện C, H và T3 lấy 02 két vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger bạc dung tích 330ml bị bỏ lại ven đường và chia cho các đối tượng cầm theo để đánh nhau. Trong đó: T3 cầm 08 vỏ chai bia, N cầm 05 vỏ chai bia, N1 cầm 03 vỏ chai bia, C cầm 03 vỏ chai bia, T4 cầm 05 vỏ chai bia, T5 cầm 06 vỏ chai bia, Hà D1 cầm 03 vỏ chai bia. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, nhóm T đi đến đoạn đường L thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì gặp Hoàng Đức N3, sinh ngày 29/03/2008, trú tại: Bản T, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng không lắp biển số chở Đinh Công C1, sinh ngày 19/09/2008, trú tại: xã H, huyện P, tỉnh Sơn La và Đinh Văn N4, sinh ngày 08/02/2007, trú tại: xã M, huyện P, tỉnh Sơn La đi từ Bắc Ninh về Sơn La. Nhìn thấy N3, N4, C1 không đội mũ bảo hiểm, đi xe không biển số, lai ba nên K hô “quay lại dồn nó”. Nghe

thấy K hô, cả nhóm quay đầu xe, tăng ga dồn đuổi đánh nhóm N. Do thấy bị dồn đuổi, nên N3 tăng ga bỏ chạy trên đường L rồi rẽ sang đường N ra đường H hướng lên Đền H1. Quá trình dồn đuổi N3, nhóm T liên tục chửi bới, hô hào nhau dồn đuổi với tốc độ cao khoảng 80-100km/h. Đồng thời, T ném 02 vỏ chai bia do N đưa, N ném 03 vỏ chai bia, C ném 02 vỏ chai bia, T4 ném 05 vỏ chai bia, Nam ném 03 vỏ chai bia, T3 ném 04 vỏ chai bia về phía xe của N3 nhưng không trúng ai, vỏ chai bia vỡ ra đường (Còn 04 vỏ chai bia của T3 và 01 vỏ chai bia của T4 bị rơi trên đường dồn đuổi). Trong lúc dồn đuổi, N1 lấy 01 vỏ bao kiếm bằng gỗ từ Nghiệp vụt liên tiếp 4-5 cái trúng vào người N4. Khi dồn đuổi đến ngã tư phường M, xe của S bị hết xăng nên N2 và T5 đã dừng lại đẩy xe của S đi đến cây xăng Minh P đổ xăng rồi cùng nhau đi về trước; 06 vỏ chai bia T5 cầm theo, T5 vứt bỏ vào thùng rác trước cửa số nhà A đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Cơ quan điều tra đã thu hồi được). Đối với Đ và Hà D1 chỉ đuổi theo đến ngã ba V thì không nhìn thấy T và nhóm bạn của mình đâu nên không dồn đuổi nữa mà gọi điện cho T4 hẹn chờ ở cầu P. Còn lại T, N, Nguyễn D, T3, N1, K, T2, C và T4 tiếp tục dồn đuổi nhóm N. Khi đến trước cửa số nhà C Đại lộ H thuộc Khu A, phường V, thành phố V thì Nguyễn D và T3 vượt lên chặn được xe của N3 dừng lại. Lúc này, T3 nhảy xuống xe, dùng sống lưỡi kiếm chém 02 cái vào người N4, 01 cái vào lưng N3; N cũng chạy đến dùng sống lưỡi kiếm chém 01 cái vào vùng người Nguyên; Nguyễn D nhặt 01 vỏ chai bia ném về phía nhóm N3 nhưng không trúng ai; Tân nhặt 01 vỏ chai bia dưới đường ném vào cổ tay trái C1 và dùng tay chân đấm đá Chỉnh. N4 và C1 bỏ chạy thì T3 và N dồn theo. Khi N3 đang rút chìa khóa xe rồi định quay người bỏ chạy thì T nhặt 01 vỏ chai bia gần xe của Nguyễn Dũng V liên tiếp 02 cái về phía N3, 01 cái trúng đỉnh đầu bên trái, 01 cái trúng vào vùng tay của N3 làm Nhật choáng và nằm gục xuống đường. Sau khi dồn N4 và C1 được một đoạn nhưng không dồn đuổi kịp nên T3 và N quay lại, nhìn thấy N3 đang nằm gục xuống đường, T3 dùng kiếm chém 01 cái vào xe của N3 làm phía dưới cánh yếm bên trái có vết nứt nhựa và đầu cần tay phanh bánh trước bị nứt gãy. Sau đó, tất cả các đối tượng lên xe và bỏ chạy về huyện C. Hậu quả: Nhật bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện L ngày 02/7/2024, Bệnh viện V2 từ ngày 02/7/2024 đến ngày 10/7/2024, Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Sơn La từ ngày 10/7/2024 đến ngày 16/7/2024 thì ra viện. Còn C1 và N4 bị xây sát, bầm tím nhẹ nên không điều trị ở đâu.

Ngày 02/7/2024, cháu C1 và gia đình cháu N3 đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường V, thành phố V. Cùng ngày, Công an phường V chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền.

Hành vi điều khiển xe với tốc độ cao, hò hét, dùng hung khí là kiếm, vỏ chai bia dồn đuổi, đánh N3, C1, N4 trên nhiều tuyến đường thuộc thành phố V của các đối tượng đã gây hoang mang, lo sợ cho những người tham gia giao thông trên đường và quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ủy ban nhân dân các phường V, M, N, Minh P, T, T, Vân C2 cùng đại diện khu dân cư đã có văn bản kiến nghị gửi Công an thành phố V đề

nghị có biện pháp ngăn chặn, xác minh làm rõ nhóm đối tượng nêu trên để xử lý theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra đã triệu tập N2, Đ, Nguyễn D, N1, C, T4, T5, T3, Hà D1 đến làm việc. Còn K, T, N, T2, S bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 06/7/2024, K, T, N ra đầu thú, T2 và S được Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời tự nguyện giao nộp: 02 thanh kiếm, 01 vỏ bao kiếm, 07 xe mô tô.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định sau khi vụ việc xảy ra, Hoàng Đức N3 bị tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh chẩm trái, lún sọ thái dương đỉnh T, dập não TD đỉnh T G15Đ; ngón 1, 2 chân phải bị đụng dập móng và xây sát da nhiều bộ phận; Đinh Công C1 bị 01 vết thương vùng cổ tay trái sưng tím kích thước 01cm, xung quanh có vết trầy xước dài 0,5cm; Đinh Văn N4 bị vết trày xước dài 02cm vùng ngoài cánh tay trái, vùng cạnh ngoài cẳng chân trái có vết bầm tím rộng 04cm..

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của N3, C1 và N4. Tuy nhiên, N3, C1, N4 kiên quyết từ chối giám định và cam kết không có thắc mắc, khiếu kiện gì về sau. Cơ quan điều tra ra Quyết định dẫn giải đối với N3, C1, N4 nhưng N3, C1, N4 không chấp hành theo quyết định dẫn giải của Cơ quan điều tra. Mặt khác, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh P thì do đối tượng giám định không đến nên Trung tâm không tiến hành giám định trên hồ sơ bệnh án. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của N3, C1, N4 để xem xét về hành vi cố ý gây thương tích của các đối tượng.

Mặc dù không có mâu thuẫn nhưng Trần Trịnh T vẫn rủ Nguyễn Văn N, Đào Phương N1, Đỗ Đào Duy K, Trần Duy T4, Nguyễn Hoàng Thành C, Vũ Minh T3, Nguyễn Mạnh D, Hà Tiến Đ, Hoàng Trung N2, Hoàng Quốc T5, dùng nhiều loại hung khí nguy hiểm dồn đuổi, đánh, gây thương tích cho Hoàng Đức N3, Đinh Công C1, Đinh Văn N4, gây mất trật tự nơi công cộng. Hành vi của các đối tượng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lọ sợ cho người dân đang sinh sống và tham gia giao thông trên các tuyến đường L, đường N, đường H và khu dân cư thuộc địa bàn phường V, M, N, Minh P, T, T, V, thành phố V. Hành vi của các đối tượng đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung là “Dùng hung khí..." quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Đối với Hà Mạnh D1, Nguyễn Ngọc T2, Lê Hồng S đã có hành vi tham gia dồn đuổi nhóm N3, điều khiển xe với tốc độ cao tại các tuyến đường là nơi công cộng, tập trung đông người. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật các đối tượng chưa đủ 16 tuổi. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà D1, T2, S về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ ...” quy định tại điểm b Khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi Vũ Minh T3 dùng kiếm chém gây hư hỏng xe máy nhãn hiệu Honda Wave của Hoàng Đức N3: Ngày 01/8/2024, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha của Hoàng Đức N3. Tại Kết luận định giá tài sản số 635/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản – Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: Phần thiệt hại của xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, sản xuất năm 2024, không có biển kiểm soát, số máy: JA70E-0457203, số khung: RLHJA3930RY13G014, đã qua sử dụng có tổng trị giá thiệt hại là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Do giá trị thiệt hại về tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Minh T3 về hành vi "Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức" quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi dùng sống lưỡi kiếm chém 02 cái vào người N4, 01 cái vào lưng N3 của T3; hành vi dùng sống lưỡi kiếm chém 01 cái vào người N4 của N; hành vi dùng vỏ chai ném vào cổ tay trái C1 và dùng tay chân đấm đá Chỉnh của T4; hành vi dùng vỏ chai bia đánh 02 cái trúng vào đỉnh đầu bên trái và trúng vào vùng tay N3 của T; hành vi dùng vỏ bao kiếm vụt 4-5 cái vào người Nguyên của N1; hành vi ném vỏ chai bia của T, N, C, T4, N1, T3, Nguyễn D có dấu hiệu của “Tội cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, N3, C1, N4 từ chối giám định phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể nên Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Trịnh T, Nguyễn Văn N, Vũ Minh T3, Trần Duy T4, Nguyễn Mạnh D, Đào Phương N1 và Nguyễn Hoàng Thành C về hành vi "Cố ý gây thương tích hoặc hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự" quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi điều khiển xe môtô lưu thông trên đường khi chưa có Giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe không gắn biển số của Trần Trịnh T, Đỗ Đào Duy K, Nguyễn Mạnh D, Hà Tiến Đ, Hoàng Trung N2, Nguyễn Ngọc T2, Lê Hồng S và Hoàng Đức N3 đã vi phạm quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6, điểm a khoản 2 Điều 17 và Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ. Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên theo quy định.

Đối với hành vi chở quá số người quy định của Nguyễn Ngọc T2, Hoàng Đức N3 đã vi phạm điểm 1 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ. Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với hành vi không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy của Nguyễn Văn N, Vũ Minh T3, Đào Phương N1, Nguyễn Hoàng Thành C, Trần Duy T4, Hoàng Quốc T5, Hà Mạnh D1, Đinh Văn N4, Đinh Công C1 đã vi phạm quy định tại

điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ. Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên theo quy định.

Đối với hành vi điều khiển xe với tốc độ cao trên nhiều tuyến đường thuộc thành phố V của Hoàng Đức N3, Đinh Văn N4, Đinh Công C1: Do nhóm N3 bị nhóm của T dồn đuổi đánh nên N3 sợ hãi phải điều khiển xe bỏ chay. Hành vi của N3, C1, N4 là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của mình, không có mục đích gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn làm rõ: Anh Nguyễn Đức V1 – sinh năm 1987, trú tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ và chị Đinh Thị Kim N5 – sinh ngày 02/5/1991, trú tại huyện T, tỉnh Phú Thọ (là bố và mẹ của Nguyễn Mạnh D) có tình cảm yêu đương và quan hệ tình dục với nhau vào khoảng năm 2006, khi chị N5 chưa đủ 16 tuổi. Hành vi của anh V1 có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tuy nhiên đến nay thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về động cơ, mục đích phạm tội: Mặc dù không có mâu thuẫn nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô, hò hét và sử dụng hung khí nguy hiểm dồn đuổi và đánh gây thương tích cho Hoàng Đức N3, Đinh Công C1, Đinh Văn N4, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nhân chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, các bị cáo K, T, Nghiệp đầu thú; các bị cáo K, N, N1, T đã tác động gia đình bồi thường cho cháu N3; ông nội của bị cáo Nguyễn Mạnh D được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang.

Vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ và xử lý vật chứng trong vụ án:

  • - 03 (ba) Đĩa DVD trích các đoạn video CAMERA sự việc xảy ra ngày 01/7/2024 do người dân cung cấp được đưa vào hồ sơ vụ án;
  • - 01 (một) thanh kiếm dạng kiếm nhật có chuôi bằng gỗ dài 25cm bằng gỗ màu đen, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 56 cm; 01 (một) thanh kiếm dạng kiếm nhật có chuôi bằng gỗ dài 26cm màu vàng nâu, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 62 cm, 01 vỏ bao kiếm bằng gỗ màu nâu đen dài 64cm là của T3 và N sử dụng để đánh gây thương tích cho N3, C1, N4 ngày 01/7/2024.
  • - 06 (sáu) vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger bạc dung tích 330 ml, đã qua sử dụng là của Hoàng Quốc T5 mang đi mục đích để ném nhóm N3 nhưng không dồn kịp nên chưa sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, không lắp biển số, số khung: RLHJK0344PZ499758; Số máy: JK03E-6311317 do Nguyễn Mạnh D điều khiển; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không lắp biển số, số khung: RLHJA3938RY003484, số máy: JA70E0255202 do Hà Tiến Đ điều khiển; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không lắp biển số, số khung RLHJA3923PY484717, số máy: JA39E3105887 do Đỗ Đào Duy K điều khiển; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen, lắp biển kiểm soát: 19G1-473.95, số khung RLHJK0104MZ034151, số máy: JK01E0215194 do Nguyễn Ngọc T2 điều khiển; 01 (một) xe gắn máy kiểu dạng xe Honda Wave màu cam, không lắp biển số, số khung: RL9BCBRUMMBG03779, số máy: RNA1P39FMBR03779 do Hoàng Trung N2 điều khiển; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, lắp biển kiểm soát: 19G1-312.88, số khung: RLHJA3900HY371338, số máy: JA39E0369994 do Trần Trịnh T điều khiển; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, không lắp biển số, số khung: RLCS5C640CY753725, số máy: 5C64753737 do Lê Hồng S điều khiển. Quá trình điều tra xác định, các bị cáo tự ý lấy xe sử dụng; bố mẹ, người thân các bị cáo không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 12/9/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả các phương tiện trên cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng theo quy định.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không lắp biển số, số khung: RLHJA3930RY136014, số máy: JA70E0457203 do Hoàng Đức N3 điều khiển. Chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Đ1 – sinh năm 1988, trú tại: xã H, huyện P, tỉnh Sơn La (chị Đ1 là mẹ của N3), N3 tự ý lấy xe của chị Đào Đ2 để sử dụng, chị Đ1 không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 12/9/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả chiếc xe trên cho chị Đ1 quản lý, sử dụng theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo K, N, N1, T cùng gia đình đã bồi thường cho cháu N3 tổng số tiền 260.000.000 đồng, cháu N3 không đề nghị bồi thường thêm chi phí gì khác. Cháu N4, C1 do thương tích nhẹ nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định, các bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, ngoài những đồ dùng sinh hoạt cá nhân thiết yếu.

Cáo trạng số: 129/CT-VKS-VT ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố các bị cáo Trần Trịnh T, Vũ Minh T3, Nguyễn Văn N, Trần Duy T4, Đào Phương N1, Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Hoàng Thành C, Đỗ Đào Duy K, Hoàng Trung N2, Hà Tiến Đ, Hoàng Quốc T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Trịnh T, Vũ Minh T3, Nguyễn Văn N, Trần Duy T4, Đào Phương N1, Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Hoàng Thành C, Đỗ Đào Duy K, Hoàng Trung N2, Hà Tiến Đ, Hoàng Quốc T5 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. 1.1) Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, điều 38, điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 179, khoản 1 điều 119 luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Trần Trịnh T.
  3. 1.2). Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, điều 65, Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Đào Duy K và Hà Tiến Đ.
  4. 1.3)Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, điều 65, điều101 Bộ luật Hình sự, điều 328 bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 179, khoản 1 điều 119,điều 124 luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Vũ Minh T3, Nguyễn Mạnh D, Trần Duy T4, Nguyễn Hoàng Thành C,
  5. 1.4)Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, điều 65, điều101 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 179, khoản 1 diều 119,điều 124 luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn Văn N, Đào Phương N1, Hoàng Trung N2, Hoàng Quốc T5.

- Xử phạt bị cáo Trần Trịnh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 06/7/2024.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Đào Duy K 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Đào Duy K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Đỗ Đào Duy K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Đỗ Đào Duy K cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đỗ Đào Duy K phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Hà Tiến Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm..

Giao bị cáo Hà Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Hà Tiến Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Hà Tiến Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hà Tiến Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Vũ Minh T3 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Minh T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Vũ Minh T3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Vũ Minh T3 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Minh T3 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Mạnh D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Mạnh D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Mạnh D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Mạnh D phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Đào Phương N1 20 (Hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36(Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Phương N1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Đào Phương N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Đào Phương N1 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đào Phương N1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Trần Duy T4 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Duy T4 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Trần Duy T4 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Duy T4 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Duy T4 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thành C 20 (Hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Thành C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Hoàng Thành C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Hoàng Thành C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Thành C phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Trung N2 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Trung N2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Hoàng Trung N2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Hoàng Trung N2 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hoàng Trung N2 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc T5 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Quốc T5 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Hoàng Quốc T5 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Hoàng Quốc T5 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hoàng Quốc T5 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả tự do cho các bị cáo Vũ Minh T3, Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Hoàng Thành C, Trần Duy T4 ngay tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kiếm dạng kiếm nhật có chuôi bằng gỗ dài 25cm bằng gỗ màu đen, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 56 cm; 01 (một) thanh kiếm dạng kiếm nhật có chuôi bằng gỗ dài 26cm màu vàng nâu, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 62 cm, 01 vỏ bao kiếm bằng gỗ màu nâu đen dài 64cm và 06 (sáu) vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger bạc dung tích 330 ml, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/10/2024 )

Bản án còn tuyên nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người đại diện cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, bị cáo Trần Trịnh T kháng cáo bản án sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 06/01/2025 đề nghị cấp phúc thẩm xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, người đại diện cho bị cáo là bà Nguyễn Thị X kháng cáo đề nghị cho bị cáo Trần Trịnh T áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện bà Nguyễn Thị X kháng cáo đề nghị vẫn giữ nguyên kháng cáo của mình và đề nghị cấp phúc thẩm xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án.

  • - Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện bị cáo là bà Nguyễn Thị X thực hiện trong hạn luật định được xem xét nội dung đơn kháng cáo.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện cho bị cáo bà Nguyễn Thị X. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

  • - Về án phí: Bị cáo Trần Trịnh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo, người đại diện cho bị cáo và người bào chữa tham gia tranh luận đều đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện là bà Nguyễn Thị X thực hiện trong hạn luật định được xem xét nội dung đơn kháng cáo.

Vụ án sơ thẩm xét xử bị cáo là người chưa thành niên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa ghi đầy đủ thông tin của Hội thẩm nhân dân là chưa thực hiện đúng hướng dẫn tại mục 5, Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) hướng dẫn viết bản án hình sự sơ thẩm, cần rút kinh nghiệm.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, căn cứ vào lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành gây rối trật tự cộng do mình khởi xướng và thực hiện hành vi rất tích cực vi trong quá trình phạm tội. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T chưa thành niên (17 tuổi 7 tháng 15 ngày). Nên bị cáo được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định về người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 101 của Bộ luật hình sự và luật tư pháp người chưa thành niên quy định tại điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo Trần Trịnh T và đồng phạm đều phạm tội Gây rối trật tự công cộng như bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã xét xử là đúng người, đúng tội, tương xứng tính chất hành vi và vai trò của bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của người bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện cho bị cáo bà Nguyễn Thị X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo thấy rằng: Tại cấp phúc thẩm, bà Nguyễn Thị X cung cấp thêm chứng cứ mới là ông bà nội của bị cáo là ông Trần Khắc M, bà Hà Thị L là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, huy chương kháng chiến hạng nhì. Xét thấy các chứng cứ mới cung cấp được coi là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, chứng cứ mới cung cấp là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có ý nghĩa quan trọng để xét giảm hình phạt và cho hưởng án treo khi bị cáo là người khởi xướng và có vai trò chính trong suốt quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bà X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

2. Xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trịnh T và người đại diện cho bị cáo là bà Nguyễn Thị X. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HSST ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Trần Trịnh T.

Tuyên bố bị cáo Trần Trịnh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Trần Trịnh T.

Xử phạt bị cáo Trần Trịnh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 06/7/2024.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Trịnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - STP tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND tp Việt Trì;
  • - VKSND tp Việt Trì;
  • - Công an tp Việt Trì;
  • - Chi cục T.H.A tp Việt Trì;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo Tuấn;
  • - Người đại diện bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 24/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trịnh Tuấn - Gây rối trận tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger