Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-PT

Ngày 15 – 8 – 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Nghĩa, bà Lại Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15/8/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Quàng Tùng L do có kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2025/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Bị cáo có kháng cáo:

Quàng Tùng L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 6 năm 2006 tại thành phố S, tỉnh Sơn La (đến ngày phạm tội, bị cáo được 17 tuổi 09 tháng 14 ngày); nơi cư trú: bản H, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản H, phường C, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn Đ và bà Lò Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2025 đến nay. Có mặt.

Ngoài ra còn có 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị gồm: Quàng Trọng K, Quàng Văn T, Quàng Văn T1, Lò Bảo L1, Lò Quốc K1.

- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập gồm:

1. Bị hại:

  • Anh Lò Anh H, sinh ngày 27/11/2009; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản T, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại Lò Anh H: Ông Lò Văn B; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản T, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Anh Quàng Văn T2, sinh năm 2006; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản T, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại Quàng Văn T2: Ông Quàng Văn Ư, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản T, phường C, tỉnh Sơn La).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

  • Bà Vì Thị T3; nơi cư trú: Bản M, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản M, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Bà Lò Thị D, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản T, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Ông Lò Văn B1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Bản L, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản L, phường C, tỉnh Sơn La).
  • Bà Lù Thị C1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Bản H, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là bản H, phường C, tỉnh Sơn La).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 30/3/2024, bị cáo Lò Quốc K1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B1 – 908.88 chở theo Quàng Trọng K ở giữa và Quàng Văn T ngồi sau cùng, khi đi K có mang theo 01 thanh kiếm (chiều dài 83,4cm, chuôi kiếm bằng gỗ dài 20cm có bọc kim loại màu vàng để trong vỏ kiếm bằng gỗ màu nâu dài 67,6cm, mục đích để nếu có mâu thuẫn với ai thì dùng để đánh nhau). Quốc Khánh, T, T cùng đi đến khu vực đường V thuộc bản S, xã H, tại đây nhóm của K gặp bị cáo Quàng Tùng L; bị cáo Lò Bảo L1; anh Lèo Việt T4, sinh ngày 17/11/2008, trú tại bản Mòng, xã H, thành phố S; bị cáo Quàng Văn T1, sinh ngày 29/8/2007; anh Quàng Đức T5, sinh ngày 14/11/2008, trú tại bản Trung Tâm, xã C, thành phố S; anh Tòng Quốc K2, sinh ngày 05/11/2009, trú tại tổ C, phường C, thành phố S.

Cùng thời điểm, các anh Lò Văn H1, Quàng Văn T2, Lò Văn L2 và Quàng Văn Đ1, đều trú tại bản T, xã C, thành phố S cũng rủ nhau đi đến Quảng trường T chơi. Anh H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B2-680.22 chở T2 phía sau, Đ1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 26AA-291.13 chở theo Lập phía sau đi từ xã C ra đường Q rồi đi theo đường tránh đến ngã 5 xã H, đi vào đường V để đến quảng trường chơi. Khi đi vào đường V khoảng 10m thì thấy nhóm của Lò Q đang đứng cạnh 04 xe máy trên vỉa hè bên phải cách xe đang điều khiển khoảng 50m (theo hướng ngã 5 xã H đi quảng trường T). Do sợ bị đánh nên Đ1 và H1 điều khiển xe quay đầu đi về ngã 5 xã H rồi đi theo đường tránh thành phố S để đi về nhà thì Quàng Tùng L và Tòng Quốc K2 nhìn thấy và hô lên “Đuổi đi, đuổi đi” cả nhóm đồng ý. Tòng Q điều khiển xe máy chở Quàng Đức T5 phía sau, Lò Quốc K1 điều khiển xe mô tô chở Quàng Trọng K ngồi ở giữa, Quàng Văn T ngồi sau cùng, Quàng Tùng L điều khiển xe mô tô chở Lò Bảo L1, Lèo Việt T4 điều khiển xe máy chở Quàng Văn T1, các bị cáo di chuyển với tốc độ cao khoảng 70km/h cùng nhau đuổi theo xe của Đ1 điều khiển chở theo L2 đi trước, xe của H1 điều khiển chở T2 đi phía sau.

Quá trình đuổi theo Tòng Quốc K2 điều khiển xe máy tăng ga vượt lên đi đầu tiên, thứ hai là xe của Lò Quốc K1 điều khiển, thứ ba là xe Lèo Việt T4 điều khiển phía sau, đi sau cùng là xe của Quàng Tùng L điều khiển, L điều khiển xe máy đuổi theo được khoảng 01km thì đi chậm lại và không đuổi theo nữa mà đi chậm sau cùng.

Lúc này, anh Đ1 điều khiển xe chở anh L2 đi trước đã tăng ga chạy thẳng về nhà tại bản T, xã C, thành phố S. Cả nhóm của Quàng Tùng L còn lại tiếp tục đuổi theo xe của H1 chở T2, khi đi đến đoạn đường gần ngã ba đường đi vào bản H (cách vị trí bắt đầu đuổi khoảng 05km) thì Tòng Quốc K2 điều khiển xe máy chở Quàng Đức T5 phía sau đuổi kịp và đi ngang xe do H1 điều khiển chở T2, Khi gặp nhau, T6 Quốc Khánh hỏi H1 và T2 đi đâu đấy thì H1 trả lời là đi chơi. Do Tòng Quốc K2 và Quàng Đức T5 có quen biết anh H1 và T2 nên Tòng Quốc K2 và Quàng Đức T5 không đánh H1, T2 mà điều khiển xe đi thẳng về hướng Quốc lộ F đi về K2 tại tổ C, phường C, thành phố S, sau đó anh T5 điều khiển xe mô tô đi về nhà tại bản T, xã C, thành phố S.

Sau khi K2 và T5 bỏ đi thì H1 điều khiển xe chở T2 đi chậm lại, khi đi đến ngã ba bản Hôm thì Lò Q điều khiển xe mô tô chở Quàng Trọng K ở giữa, Quàng Văn T ngồi sau cùng đuổi kịp xe do H1 điều khiển và đi song song xe của H1, bị cáo Quàng Trọng K rút kiếm ra khỏi vỏ cầm kiếm ở tay trái còn vỏ kiếm đưa cho Thảo cầm và nói với T2, H1: “Chúng mày có dừng không, chúng mày thích chạy không”. Thấy vậy, H1 giảm tốc độ rồi dừng xe ở lề đường bên phải (theo chiều đi). Lúc này, Lò Quốc K1 điều khiển xe máy chặn phía trước xe máy của H1, Quàng Trọng K xuống xe lấy vỏ kiếm từ tay T, cho kiếm vào vỏ rồi cầm ở tay trái, tay phải lấy mũ bảo hiểm T đang cầm đi đến bên cạnh đầu xe bên trái của H1 và T2, đập 01 phát về phía H1 đang ngồi trên xe (ở vị trí lái), H1 cúi xuống tránh thì trúng và đầu T2 đang ngồi sau làm mũ bảo hiểm vị vỡ, Quàng Trọng K đi vứt mũ bảo hiểm ở lề đường bên phải rồi quay lại đứng trước đầu xe T2 và H1. Lúc này T4 điều khiển chở T1 phía sau đi đến và dừng xe ở phía sau xe của H1 và T2. Quàng Trọng K dùng tay phải rút kiếm ra khỏi vỏ chém một nhát trúng má bên trái của H1, khi T2 đang bước xuống bên trái của xe thì Quàng Trọng K cầm kiếm vung chém một nhát về phía T2 trúng vùng đầu bên phải của T2. Sau đó, Quàng Trọng K cho kiếm vào vỏ rồi đi ra xe ngồi. Sau đó, T1, T4, T, Lò Quốc K1 cùng đi đến dùng tay chân đấm, đá, tát nhiều phát vào người T2 và H1, một lúc sau Quàng Trọng K nói “Thôi, dừng! dừng!” thì Lò Quốc K1, T, T4, T1 không đánh H1 và T2 nữa.

Sau khi nhóm của K1 đánh H1, T2 xong thì Quàng T điều khiển xe máy chở Lò Bảo L phía sau đi qua chỗ H1 và T2 bị đánh nhưng không dừng lại mà điều khiển xe đi về nhà tại bản H, xã C, thành phố S. Sau đó, các bị cáo Lò Quốc K1, Quàng Trọng K, Thành T7 và anh T4 điều khiển xe đi về còn H1 điều khiển xe máy chở T2 đi đến trạm y tế xã C, thành phố S để sơ cứu và khâu vết thương. Ngày 27/4/2024, Quàng Văn T2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S để trình báo và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ đánh nhau gây thương tích.

Quá trình làm việc bị cáo Quàng Trọng K tự giác giao nộp 01 thanh kiếm có chiều dài là 83,4cm, chuôi kiếm bằng gỗ dài 20cm có bọc kim loại màu vàng, phần lưỡi kiếm dài 63,4cm có nhiều vết han gỉ, 01 vỏ kiếm bằng gỗ màu nâu dài 67,6cm, trên vỏ kiếm có bọc 02 miếng kim loại màu vàng (K khai nhận đây là thanh kiểm K dùng để chém gây thương tích cho H1, T2 vào tối ngày 30/3/2024); ông Lèo Văn T8 (bố của anh Lèo Việt T4) giao nộp 01 xe máy biển kiểm soát 26AA-102.60 cùng giấy đăng ký xe (là chiếc xe Trường sử dụng tối ngày 30/3/2024); bà Lò Thị D (mẹ của anh Quàng Đức T5) tự giác giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 26AA-289.66 cùng giấy tờ đăng ký xe (là chiếc xe Trọng sử dụng tối ngày 30/3/2024); ông Lò Văn B1 (bố của bị cáo Lò Quốc K1) giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B1-908.88 cùng đăng ký xe (là chiếc xe K1 sử dụng tối ngày 30/3/2024); bà Lù Thị C1 (mẹ của bị cáo Quàng Tùng L) tự giác giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2-875.83 (là chiếc xe Lâm sử dụng tối ngày 30/3/2024).

Ngày 27/4/2024, đã tiến hành kiểm tra dấu vết trên thân thể với Lò A H1 và Quàng Văn T2 kết quả: Tại vị trí trên trán, cách lông mày phải 04cm của T2 phát hiện 01 vết sẹo đã cũ kích thước 04cm x 01cm; Tại vị trí má bên trái của Lò Anh H có 01 vết sẹo kích thước 06cm x 01cm. H, T2 khai nhận là sẹo còn lại của vết thương do bị đánh, chém vào tối ngày 30/3/2024.

Ngày 20/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành xác minh tại Trạm y tế xã C, thành phố S.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ban hành quyết định trưng cầu giám định số 654/QĐ – ĐCSHS gửi Phòng K3 Công an tỉnh S để giám định: Vũ khí, đối với thanh kiếm mà bị cáo Quàng Trọng K dùng để gây thương tích cho anh H, T2. Tại bản kết luận giám định số 1104/KL – KTHS, ngày 21/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh S kết luận “Mẫu gửi giám định là kiếm, thuộc vũ khí thô sơ, kiếm vẫn còn sử dụng được”.

Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ban hành quyết định trưng cầu giám định số 693/QĐ – ĐCSHS và 694/QĐ – ĐCSHS gửi Trung tâm pháp y tỉnh S để giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lò A H và anh Quàng Văn T2.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 187/KLTTCT-TTPY, ngày 04/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của anh Lò Anh H tại thời điểm giám định là: 06% (sáu phần trăm).”

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 188/KLTTCT-TTPY, ngày 04/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của anh Quàng Văn T2 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).”

Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S xác định vị trí, quãng đường các đối tượng truy đuổi các bị hại, kết quả: Từ vị trí bị cáo Quàng Tùng L và Tòng Quốc K2 hô đuổi đánh nhóm anh H, T2, các đối tượng bắt đầu truy đuổi nhóm của anh H, T2, Đ1, L2 đến vị trí anh H và T2 bị ép dừng xe, bị đánh gây thương tích tại ngã 3 đường vào bản Hôm, xã C có chiều dài 05km .

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HSST ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã xét xử và quyết định:

1. Áp dụng Điều 155; Điều 282 Bộ luật Hình sự.

  • - Đình chỉ xét xử các bị cáo Quàng Trọng K, Quàng Văn T1, Quàng Văn T và Lò Quốc K1 về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự.

2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố bị cáo Quàng Tùng L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Xử phạt bị cáo Quàng Tùng L 20 (Hai mươi tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Nhận được quyết định thi hành án và đến Trại giam (Trại tạm giam, Nhà tạm giữ) chấp hành án.

3. Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố các bị cáo Quàng Trọng K, Quàng Văn T1, Quàng Văn T, Lò Bảo L1 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Xử phạt bị cáo Quàng Trọng K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Quàng Văn T1 08 (T9) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.
  • - Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 08 (T9) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt bị cáo Lò Bảo L1 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt bị cáo Lò Quốc K1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ của các bị cáo khi chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/6/2025, bị cáo Quàng Tùng L kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, như sau:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Tuyên bố bị cáo Quàng Tùng L phạm tội Gây rối trật tự công cộng, xử phạt bị cáo 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 36 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Quàng Tùng L cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Sơn La và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nên cần giữ nguyên, có hiệu lực.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Quàng Tùng L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đều hợp pháp.

[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/6/2025 bị cáo Quàng Tùng L có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị được hưởng án treo gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Sơn La). Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn, quy tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L

[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Tùng L

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Tùng L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 27/4/2024 và các bản ảnh kèm theo; phù hợp với lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Ngày 30/3/2024, các bị cáo Quàng Tùng L, Quàng Trọng K, Quàng Văn T, Quàng Văn T1, Lò Quốc K1 và Lò Bảo L1 cùng một số đối tượng khác đã điều khiển xe mô tô, xe gắn máy di chuyển với tốc độ cao, hò hét, lạnh lách đuổi đánh nhóm Lò Anh H, Quàng Văn T2, Lò Văn L2, Quàng Văn Đ1 từ khu vực bản Sàng, xã C đến khu vực đường rẽ vào bản Hôm, xã C. Sau khi đuổi kịp Lò Anh H, Quàng Văn T2, Quàng Trọng K đã có hành vi dùng kiếm và mũ bảo hiểm mang theo tác động, gây thương tích đối với Lò Anh H, Quàng Văn T2; Quàng Văn T1, Quàng Văn T, Lò Quốc K1, Lèo Văn T10 đã dùng tay, chân đấm, đá gây thương tích cho Lò Anh H, Quàng Văn T2. Hậu quả dẫn đến Lò Anh H bị tổn thương cơ thể 06%, Quàng Văn T2 bị tổn thương cơ thể 02%.

Giữa các bị cáo và bị hại Lò Anh H, Quàng Văn T2 không có mâu thuẫn từ trước. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, không có phân công cụ thể vai trò thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án, bị cáo Quàng Tùng L khi thấy nhóm Lò Anh H, Quàng Văn T2, Lò Văn L2, Quàng Văn Đ1 điều khiển xe quay đầu đi về nhà thì đã hô lên “Đuổi đi, đuổi đi”, do đó Quàng Tùng L giữ vai trò là người khởi xướng để các bị cáo khác tiếp nhận ý chí đuổi theo các bị hại Lò Anh H, Quàng Văn T2. Tuy nhiên, sau khi dùng xe mô tô đuổi một đoạn đường, Tòng Quốc K2 và Quàng Đ nhận thấy có quen bị hại nên đã tự ý chấm dứt hành vi, còn bị cáo Quàng Tùng L không truy đuổi theo các bị hại nữa mà đi chậm sau cùng.

Các bị cáo Quàng Trọng K, Quàng Văn T, Quàng Văn T1, Lò Bảo L1, Lò Quốc K1 đã cùng nhau điều khiển xe máy di chuyển với tốc độ cao, đuổi đánh anh Lò A H, Quàng Văn T2; trực tiếp dùng kiếm, mũ bảo hiểm, tay, chân để tác động, gây thương tích mặc dù giữa các bị cáo và nhóm Lò Anh H, Quàng Văn T2 không có mâu thuẫn từ trước.

Việc các bị cáo tham gia giao thông di chuyển với tốc độ cao, vô cớ truy đuổi, dùng kiếm chém, đánh gây thương tích cho người đang lưu thông bình thường trên đường bộ đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, về hành vi gây thương tích cho các bị hại, đã được các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với các bị cáo. Do vậy, đã được Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với các bị cáo Quàng Trọng K, Quàng Văn T1, Quàng Văn T, Lò Quốc K1 về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ theo, đúng quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với Lèo Văn T11, Tòng Quốc K2, Quàng Đ đã tham gia gây rối trật tự và cố ý gây thương tích khi đủ 16 tuổi, căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Với hành vi phạm tội và các căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Quàng Tùng L phạm tội Gây rối trật tự công cộng là có căn cứ.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L

Xác định bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm các tài liệu, chứng cứ mới gồm: Đơn xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo Quàng Tùng L; Giấy xác nhận khuyết tật mang tên ông Quàng Văn Đ (là bố đẻ của bị cáo).

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Quàng Tùng L được chính quyền địa phương xác nhận luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; bố, mẹ bị cáo đều là người ốm yếu, bệnh tật, bố đẻ bị cáo được cơ quan có thẩm quyền xác nhận là người khuyết tật, không có khả năng lao động, do đó bị cáo là lao động chính trong gia đình; do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ học hết lớp 9 sau đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất; được người bị hại, đại diện gia đình bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (bút lục 1.097). Đây là các căn cứ mới, cần áp dụng thêm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo Quàng Tùng L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; khi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 09 tháng 14 ngày có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt với mức hình phạt không quá 03 năm tù; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, thái độ ăn năn hối cải của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục lao động, học tập, trở thành người có ích cho xã hội, giúp đỡ gia đình trong hoàn cảnh khó khăn. Đối chiếu Nghị quyết hợp nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét bị cáo Quàng Tùng L có đủ điều kiện theo quy định. Phù hợp với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo và giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của bị cáo phối hợp với gia đình bị cáo được trực tiếp, theo dõi, giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Từ các căn cứ trên, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L, cho bị cáo được hưởng mức án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục và tiếp tục học tập và làm việc tại địa phương.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quàng Tùng L; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2025/HS-ST ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Sơn La) như sau:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Quàng Tùng L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Quàng Tùng L 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (là ngày 15/8/2025).

Giao bị cáo Quàng Tùng L cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Quàng Tùng L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 15/8/2025./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - TAND khu vực 1 – Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 – Sơn La;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
  • - UBND phường Chiềng Cơi, tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Phòng TT, KTNV- THA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mai Lan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Nghĩa

Lại Thị Hiếu

Đinh Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 15/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 24/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger