|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 24/2025/HS-PT Ngày 12 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Vĩnh Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLPT- HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Phùng X và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Phùng X (tên gọi khác: Không), sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã V, huyện V; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phùng Đ và con bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị V và có 02 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991).
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
-
Họ và tên: Vũ Văn C (tên gọi khác: Vũ Hữu C1), sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Công chức kế toán UBND xã V; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C2 và con bà Đặng Thị M (đều đã chết); có vợ là Trịnh Thị M1 và có 02 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995).
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
-
Họ và tên: Lê Ngọc D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Công chức văn phòng - thủ quỹ UBND xã V; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C3 và con bà Hoàng Thị Kim C4; có vợ là Tô Thị H và có 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016).
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Căn cứ Nghị quyết số 201/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Vĩnh Phúc về một số cơ chế, chính sách thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015-2020; Quyết định số 07/2016/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Vĩnh Phúc về Quy định thực hiện một số cơ chế, chính sách hỗ trợ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020; Công văn số 9770/UBND-NN3 ngày 05/12/2017 của UBND tỉnh về việc chủ trương bố trí dự toán ngân sách cho 03 nhiệm vụ chi thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2018; Kế hoạch số 10126/KH-UBND ngày 18/12/2017 của UBND tỉnh V về việc thực hiện các nội dung hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018; Tờ trình số 429/TTr-HCSN ngày 13/7/2018 của sở Tài chính tỉnh V về việc phê duyệt dự toán, cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018 và Thông báo số 32/TB-TTHĐND ngày 31/8/2018 của HĐND tỉnh V về việc thông báo Kết luận của Thường trực HĐND tỉnh tại phiên họp Thường trực ngày 30/8/2018. Ngày 31/8/2018, UBND tỉnh V ban hành Quyết định số 2026/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự toán, cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ Đông năm 2018 (đợt 1, 70%), mức hỗ trợ từ 6-8% chi phí trực tiếp sản xuất ngô thường, đậu tương, khoai lang, lạc cho nông dân, tương đương 1.400.000đ/ha.
Ngày 23/11/2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh V ban hành Công văn số 1926/SNN&PTNT-TCKT về việc đôn đốc thanh toán kinh phí hỗ trợ thay thế lợn đực giống, bò đực giống, giống vật nuôi và hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018. Do vướng mắc về thủ tục đề nghị hỗ trợ và lập hồ sơ thanh quyết toán nên ngày 07/12/2018, UBND huyện V ban hành công văn số 3160/UBND-NN&PTNT gửi UBND tỉnh V đề nghị hướng dẫn hồ sơ nghiệm thu hỗ trợ cây vụ đông năm 2018. Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh V ban hành công văn số 10114/UBND-NN2 về việc hướng dẫn hồ sơ nghiệm thu hỗ trợ cây vụ đông năm 2018, trong đó giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì cùng Sở T hướng dẫn thực hiện.
Ngày 21/12/2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh V ban hành công văn số 2128/SNN&PTNT-TCKH (văn bản 1228) hướng dẫn thủ tục thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ cây vụ đông năm 2018, yêu cầu hồ sơ thanh quyết toán gồm 5 tài liệu. Cụ thể:
- - Danh sách các hộ nông dân ký nhận kinh phí được hỗ trợ theo từng loại cây trồng, có xác nhận của trưởng thôn và UBND cấp xã; danh sách ký nhận phải ghi rõ họ tên, không tẩy xóa, thể hiện rõ địa điểm gieo trồng, diện tích hỗ trợ, mức hỗ trợ, tổng kinh phí được hỗ trợ.
- - Biên bản nghiệm thu của cấp xã về diện tích, kinh phí hỗ trợ với cấp thôn.
- - Biên bản nghiệm thu của cấp huyện về diện tích, kinh phí hỗ trợ với cấp xã
- - Bảng tổng hợp diện tích gieo trồng thực tế, kinh phí hỗ trợ của UBND cấp huyện, thành phố, thị xã;
- - Báo cáo kết quả thực hiện hỗ trợ kinh phí sản xuất cây vụ Đông trên địa bàn huyện, thành phố.
Sau khi nhận được văn bản 2128 trên, ngày 27/12/2018 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V tổ chức họp để hướng dẫn thủ tục, quy trình lập hồ sơ hỗ trợ cây vụ đông năm 2018; thành phần tham gia có Lãnh đạo UBND các xã, thị trấn và cán bộ phụ trách lĩnh vực nông nghiệp thuộc UBND xã, thị trấn trên địa bàn huyện V. Trong đó, xã V có ông Nguyễn Ngọc K là Phó Chủ tịch UBND xã và bà Đỗ Thị N là cán bộ hợp đồng phụ trách lĩnh vực nông nghiệp của UBND xã dự họp. Sau cuộc họp, UBND xã V đã tổ chức họp triển khai lập hồ sơ nghiệm thu và quyết toán kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông đến 16 trưởng thôn trên địa bàn. Trong đó, UBND xã giao cho ông Nguyễn Ngọc K tổ chức, triển khai, hướng dẫn lập hồ sơ nghiệm thu, quyết toán kinh phí; giao ông Đỗ Gia C5 là Cán bộ Văn phòng - Thống kê đã tổng hợp danh sách các hộ dân trồng cây vụ đông năm 2018 cùng bà N và Vũ Văn C là Kế toán trưởng xã trực tiếp phối hợp với các trưởng thôn để tiến hành nghiệm thu diện tích trồng cây vụ đông thực tế. Đồng thời, UBND xã V ban hành công văn số 218/UBND-TK ngày 27/12/2018 gửi các trưởng thôn yêu cầu rà soát, lập danh sách, kê khai diện tích các hộ trồng cây vụ đông năm 2018. Sau khi tham gia cuộc họp và nhận được công văn triển khai trên, 16 trưởng thôn trong xã đã tiến hành thông báo đến một số người dân, căn cứ sổ quản lý ruộng đất để tự thống kê, lập danh sách các hộ dân trồng cây ngô vụ đông năm 2018 trên địa bàn thôn mình gửi về UBND xã V. Ông C5 soạn thảo lại các danh sách này trên máy tính theo biểu mẫu thống nhất rồi in ra cho các thành phần liên quan bao gồm ông K, ông C5, C và trưởng thôn ký. UBND xã V không tiến hành nghiệm thu diện tích cây trồng vụ đông thực tế tại từng thửa ruộng kê khai của các thôn nhưng vẫn lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018 theo hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh V và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V với tổng diện tích trồng ngô thường đề nghị hỗ trợ là 2.722.364m² tương ứng với số tiền được hỗ trợ là 381.130.960đ.
Ngày 28/12/2018, UBND huyện V ban hành Công văn số 3360/UBND-NN&PTNT về việc nghiệm thu diện tích cây vụ đông năm 2018, thành viên đoàn nghiệm thu gồm bà Lê Thị L là Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V; bà Nguyễn Thị Bích T là Cán bộ Trạm khuyến nông huyện V, ông Đặng Ngọc Đ1 là Cán bộ phòng Tài chính - Kế hoạch huyện V tiến hành nghiệm thu thực tế tại xã V vào sáng ngày 03/01/2019. Tuy nhiên, đoàn nghiệm thu không tiến hành nghiệm thu diện tích cây trồng vụ đông (ngô thường) trên các xứ đồng, thửa ruộng canh tác thực tế mà chỉ so sánh, đối chiếu số liệu tại hồ sơ do UBND xã V cung cấp rồi tiến hành lập biên bản nghiệm thu với UBND xã V.
Căn cứ vào hồ sơ của các xã, thị trấn, kết quả nghiệm thu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V đến ngày 04/01/2019 UBND huyện V có báo cáo số 07/BC-UBND về kết quả nghiệm thu diện tích và kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018 kèm theo bảng tổng hợp diện tích và kinh phí đề nghị hỗ trợ cây trồng vụ đông năm 2018.
Ngày 17/01/2019, UBND tỉnh V ra Quyết định số 188/QĐ-UBND về việc cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ Đông năm 2018 (đợt 2) cho 9 huyện, thành phố tỉnh Vĩnh Phúc theo đó huyện V được cấp tổng kinh phí triển khai thực hiện theo nghiệm thu thực tế là 2.380.700.000đ (đợt 1 theo Quyết định 2026 ngày 31/8/2018 là 1.332.800.000đ và đợt 2 theo Quyết định 188 ngày 17/01/2019 là 978.600.000đ).
Tại xã V, do có thắc mắc của người dân nên đầu tháng 01/2020, UBND xã V thực hiện việc rà soát lại số liệu thực tế canh tác cây ngô vụ đông trên địa bàn, qua rà soát phát hiện ra một số thôn số liệu về diện tích đề nghị hỗ trợ sản xuất cây vụ đông (ngô) năm 2018 chưa chính xác. Ngày 23/01/2019 ông K ký báo cáo về việc giảm diện tích cây đông năm 2018 của UBND xã V gửi Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V, cụ thể: Điều chỉnh diện hỗ trợ từ 1.947 hộ tương ứng diện tích là 2.722.364m² thành 1.939 hộ tương ứng diện tích 2.323.156m², nguyên nhân giảm là do các hộ gia đình phát triển chăn nuôi bò sữa chuyển từ trồng ngô, lúa sang trồng cỏ.
Ngày 30/01/2019 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V có Tờ trình số 05/TTr-NN&PTNT gửi UBND huyện V về việc đề nghị cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018, đồng thời UBND huyện V có Báo cáo số 32/BC-UBND gửi UBND tỉnh V về kết quả nghiệm thu diện tích, kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông 2018 kèm theo danh sách tổng hợp diện tích và kinh phí hỗ trợ cây trồng vụ đông năm 2018 tại 28 xã, thị trấn của huyện. Trong đó, xã V đề nghị cấp kinh phí hỗ trợ với tổng diện tích 2.323.156m² ngô thường tương ứng với số tiền 325.241.840đ.
Ngày 27/02/2019, UBND huyện V ra Quyết định số 137/QĐ-UBND về việc giao bổ sung dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2019 cho UBND các xã, thị trấn với nội dung: Chương 760; Ngành 432; Cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ đông năm 2018. Theo danh sách chi tiết kèm theo Quyết định 137 trên, xã V được giao bổ sung dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2019 (nội dung cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018 từ nguồn bổ sung mục tiêu) với tổng số diện tích trồng ngô thường là 2.323.156m², bằng tiền là 325.242.000đ (làm tròn). Cùng ngày, khoản kinh phí hỗ trợ trên được chuyển vào Ngân sách UBND xã V.
Sau khi nhận được khoản hỗ trợ trên vào Ngân sách xã, ngày 13/6/2019, Nguyễn Phùng X - Chủ tịch UBND xã V ký Quyết định số 46/QĐ-UBND về việc bổ sung dự toán chi thường xuyên, kèm theo bảng phân bổ dự toán chi thường xuyên, theo đó bổ sung số tiền 325.242.000đ được chi hỗ trợ nêu trên vào dự toán chi các nhiệm vụ kinh tế (mã nhiệm vụ chi: 280), cụ thể là chi nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp (mã ngành: 281). Cùng ngày, X chỉ đạo C lập chứng từ là Giấy rút dự toán ngân sách số 045b, sổ tiền gửi Kho bạc năm 2019, tài khoản 1121; nội dung: Thanh toán tiền hỗ trợ cây vụ đông 2018 có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị là X, Kế toán trưởng là C rồi C giao cho Lê Ngọc D là Công chức Văn phòng kiêm Thủ quỹ của UBND xã V đến Kho bạc Nhà nước huyện V rút số tiền trên, D đã ký nhận số tiền trên từ Kho bạc nhà nước huyện V trong cùng ngày.
Ngày 14/6/2019, X chỉ đạo C lập chứng từ thu nộp khoản kinh phí hỗ trợ ngô vụ đông năm 2018 vào quỹ tiền mặt của UBND xã V và tại phiếu chi số 74 cùng ngày của UBND xã V thể hiện xã đã chi toàn bộ số tiền 325.242.000đ cho D nhận, quản lý để chi trả cho người dân trong diện được hỗ trợ, nội dung chi: “Cấp tiền hỗ trợ cây vụ đông 2019”.
Tuy nhiên, sau khi được giao quản lý số tiền hỗ trợ nhân dân sản xuất cây vụ đông năm 2018 trên thì do cán bộ nông nghiệp và các trưởng thôn chưa thống kê được số tiền nộp tiền ứng mua ngô giống của các hộ dân và vẫn có người dân phản ánh diện tích, kinh phí được hỗ trợ không chính xác nên X chỉ đạo C, D chưa tiến hành chi trả mà tiếp tục rà soát, báo cáo lại số liệu. Đồng thời, từ nửa cuối năm 2019 đến gần cuối năm 2020, UBND xã V và X, C, D có những việc phát sinh cần sử dụng đến tiền vì để thuận lợi trong công tác nên X đã chỉ đạo C, D sử dụng khoản tiền hỗ trợ trên vào những việc khác mục tiêu dự toán ngân sách giao, chi sai đối tượng, sai mục đích làm thất thoát ngân sách nhà nước; không có tiền chi trả cho người dân được hỗ trợ theo quy định. Cụ thể đó là:
- - Ngày 24/9/2018, ông K đại diện UBND xã V ký hợp đồng số 13/2018-HĐMB về mua bán hạt giống cây trồng với Hợp tác xã S2, theo đó Hợp tác xã sản xuất giống cây trồng Quán Tiên cung cấp cho UBND xã V 1.125kg ngô giống, với giá 60.000đ/1kg, tổng giá trị hợp đồng là 67.500.000đ. Cùng ngày, Hợp tác xã S2 đã bàn giao số lượng ngô như trên cho UBND xã V và UBND xã V giao bà N cấp phát cho các trưởng thôn để đem về cấp cho người dân đã đăng ký. Ngày 18/6/2019, X chỉ đạo D sử dụng số tiền 67.500.000đ trong tổng khoản kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ đông năm 2018 chưa chi trả cho người dân để thanh toán cho Hợp tác xã S2.
- - Cuối năm 2019, do có nhu cầu cần tiền để chi tiêu cá nhân và biết D vẫn đang quản lý số tiền hỗ trợ cây trồng vụ đông năm 2018 chưa chi trả cho người dân nên C hỏi vay, D đồng ý cho C vay số tiền 70.000.000đ từ nguồn kinh phí đó. Đến tháng 5/2022, khi Cơ quan điều tra xác minh tin báo vụ việc trên C đã trả cho D số tiền này, sau đó D đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- - Khoảng giữa tháng 01/2020 gần Tết nguyên đán nhưng quỹ tiền mặt của UBND xã V không còn và X biết rõ khoản kinh phí hỗ trợ cây vụ đông năm 2018 D chưa chi trả cho người dân nên X gọi C lên phòng họp rồi bảo C sử dụng số tiền hỗ trợ cây vụ đông năm 2018 chi tiền Tết nguyên đán năm 2020. X đọc cho C ghi chép lại danh sách những người sẽ tặng quà Tết và mức tiền tương ứng kèm theo, tổng số tiền 63.700.000đ.
- - Khoảng tháng 6/2020, sau khi Đại hội đại biểu Đảng bộ xã V lần thứ XXX, nhiệm kỳ 2020- 2025 kết thúc, UBND xã V tiến hành sửa chữa, sắp xếp lại phòng làm việc. Do X thấy phòng làm việc của X và phòng làm việc của ông Nguyễn Văn X1 (được bầu giữ chức Bí thư Đảng uỷ xã) đều chưa có bàn ghế phục vụ việc họp, tiếp khách nên X1 đã mua của anh Đỗ Quang T1 02 bộ bàn ghế, mỗi bộ có giá 35.000.000đ để kê tại phòng làm việc của X1 và ông Nguyễn Văn X1. Ngày 26/10/2020, anh T1 đến UBND xã V đòi tiền 02 bộ bàn ghế nêu trên, X1 chỉ đạo C, D sử dụng số tiền 70.000.000đ từ nguồn kinh phí hỗ trợ sản xuất cây vụ đông năm 2018 chưa trả người dân để trả tiền mua bàn ghế. D đồng ý và sử dụng tài khoản chuyển trả số tiền 70.000.000đ đến tài khoản của anh T1 để trả tiền bàn ghế.
- - Trong thời gian năm 2019, 2020 sau thời điểm rút được số tiền hỗ trợ cây trồng vụ đông năm 2018 giao cho D quản lý, tại xã V có các đoàn thanh tra, kiểm tra, dự họp... đến làm việc với Đảng ủy, UBND xã V thì X1 đều chỉ đạo D, C sử dụng nguồn tiền từ kinh phí hỗ trợ cây trồng vụ đông năm 2018 để đóng phong bì đưa cho đại biểu, khách mời và chi liên hoan, du lịch, ăn uống ......hết tổng số tiền 65.291.840đ. Cả X1, C, D đều không nhớ đã chi cụ thể vào những hoạt động gì và chi cho những ai.
Do X1, C, D đã chi hết số tiền 325.242.000đ từ kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ đông năm 2018 vào việc trả tiền ngô giống, biếu quà Tết, tiếp khách... như nêu trên, không có tiền chi trả cho người dân và không thể hoàn thiện được biểu mẫu số 01 là danh sách cấp phát kinh phí cho người dân có đầy đủ chữ ký của họ để nộp cho cấp trên theo yêu cầu. Để che giấu việc chi tiêu trên, X1 chỉ đạo Cửu xây dựng báo cáo tổng hợp thu - chi xong khoản tiền trên trong tháng 7/2019 và báo cáo quyết toán ngân sách xã năm 2019 gửi đến Kho bạc Nhà nước huyện để được xác nhận; gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện V xét duyệt, thẩm định và trình HĐND xã V để phê chuẩn theo quy định. Tại báo cáo tổng hợp chi ngân sách năm 2019 của UBND xã V thể hiện nội dung UBND xã V đã chi xong số tiền trên, cụ thể là chi vào mục nội dung sự nghiệp phát triển kinh tế tại M.II.6 trang 2 Báo cáo tổng hợp chi ngân sách xã theo nội dung kinh tế (từ tháng 01 đến tháng 12/2019) trong tổng số tiền đã chi là 1.235.406.140đ. Ngày 10/02/2020, báo cáo tổng hợp thu chi ngân sách xã, bảng cân đối ngân sách năm 2019 của UBND xã V đã được Kho bạc nhà nước huyện V xác nhận. Ngày 24/6/2024, Phòng Tài chính - kế hoạch huyện V đã kiểm tra, thẩm định và xét duyệt các báo cáo tổng hợp thu, chi, cân đối Ngân sách năm 2019 đối với xã V, theo đó qua đối chiếu số liệu và kiểm tra điểm một số chứng từ, Phòng kết luận xã V không có vi phạm, sai sót gì trong quản lý, sử dụng Ngân sách. Ngày 30/6/2020, trên cơ sở báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế - xã hội HĐND xã V, ý kiến biểu quyết thông qua của các Đại biểu dự kỳ họp họp thứ 15, khóa XXI nhiệm kỳ 2016-2021, HĐND xã V, đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-HĐND ngày 30/6/2020 của HĐND xã V về việc phê chuẩn quyết toán ngân sách xã năm 2019. Như vậy, khoản kinh phí hỗ trợ sản xuất cây ngô vụ Đông năm 2018 cho nhân dân xã V không được X1, C, D là những cán bộ có thẩm quyền của UBND xã V chi trả theo đúng dự toán chi NSNN được giao bổ sung tại quyết định số 137 ngày 27/2/2019 của UBND huyện V.
Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo và người liên quan đã nộp tiền để khắc phục hậu quả. Cụ thể đó là:
- - Ngày 22/11/2023, Lê Ngọc D giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 257.742.000đ để khắc phục hậu quả (Trong đó, Nguyễn Phùng X đưa cho D số tiền 187.742.000đ; Vũ Văn C đưa cho D số tiền 70.000.000đ).
- - Ngày 11/8/2024, Lê Ngọc D giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 2.000.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của UBND xã V.
- - Ngày 14/8/2024, ông Nguyễn Ngọc K giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 2.000.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của xã V.
- - Ngày 17/8/2024, Vũ Văn C giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 2.000.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của UBND xã V.
- - Ngày 21/8/2024, Nguyễn Phùng X giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 4.000.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của UBND xã V.
- - Ngày 11/9/2024, Lê Ngọc D nộp cho Cơ quan điều tra 11.250.000đ là tiền người dân đóng để ứng mua ngô giống trồng vụ đông năm 2018.
- - Ngày 03/10/2024, Nguyễn Phùng X đưa cho Lê Ngọc D giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 67.500.000đ để khắc phục hậu quả.
- - Ngày 05/10/2024, ông Nguyễn Văn T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 200.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của UBND xã V.
- - Ngày 05/10/2024, ông Nguyễn Văn X1 giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 4.000.000đ là tiền quà Tết nguyên đán năm 2020 của UBND xã V.
* Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 31/10/2022, Sở Tài chính tỉnh V đã có Kết luận giám định số 04-2022/KL-GĐTC, kết luận:
Việc ông Vũ Văn C và ông Lê Ngọc D khai nhận đã sử dụng khoản kinh phí hỗ trợ cây trồng vụ Đông năm 2018 như trên là hành vi vi phạm pháp luật về Ngân sách Nhà nước.
Hành vi này vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 18 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015: “3. Chi không có dự toán, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; chi không đúng dự toán ngân sách được giao; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, không đúng mục đích; tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật”.
Đồng thời không thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục thanh quyết toán khoản kinh phí hỗ trợ cây vụ Đông năm 2018 trên theo hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Văn bản số 2128/SNN&PTNT-TCKT ngày 21/12/2018. Hành vi này đã gây thiệt hại cho các hộ dân được hỗ trợ với số tiền là 257.741.840 đồng (tổng kinh phí hỗ trợ cây vụ Đông năm 2018 là 325.241.840 đồng trừ đi khoản kinh phí đã trả mua ngô giống trồng vụ Đông năm 2018 cho các hộ dân là 67.500.000 đồng).
Ngày 13/8/2024, Sở Tài chính tỉnh V đã có Kết luận giám định số 03-2024/KL-GĐTC, kết luận:
Việc ông Vũ Văn C và ông Lê Ngọc D khai nhận đã sử dụng khoản kinh phí hỗ trợ cây trồng vụ Đông năm 2018:
- - Đối với phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp: Giữ nguyên kết luận của giám định viên tại Kết luận giám định số 04-2022/KL-GĐTC ngày 31/10/2022.
- - Đối với phần các hộ dân đăng ký mua ngô giống đã nộp số tiền đặt cọc là 11.250.000đ là hành vi vi phạm pháp luật về Luật Kế toán. Cụ thể là vi phạm khoản 3, Điều 6 Luật Kế toán 2015 “3. Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.”
Hành vi này đã gây thiệt hại cho các hộ dân được hỗ trợ với số tiền là 268.991.840 đồng (tổng kinh phí được cấp hỗ trợ là 325.241.840 đồng cộng số tiền các hộ dân đăng ký mua ngô giống đã nộp số tiền đặt cọc là 11.250.000 đồng trừ đi khoản kinh phí đã ứng trước để mua ngô giống trồng vụ Đông năm 2018 cho các hộ dân là 67.500.000 đồng).
Quá trình điều tra - Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thông báo nội dung các Kết luận giám định nêu trên cho Phùng Văn X2, Vũ Văn C, Lê Ngọc D theo quy định pháp luật. Sau khi được thông báo thì cả 03 bị cáo đều đồng ý với nội dung các Kết luận giám định, không ai có ý kiến thắc mắc gì.
* Về hậu quả của hành vi các bị cáo thực hiện:
Tại bản Kết luận giám định về tài chính số 04 ngày 31/10/2022 và bản kết luận giám định bổ sung số 03 ngày 13/8/2024 của Sở Tài chính tỉnh V xác định hành vi sử dụng khoản kinh phí hỗ trợ cây trồng vụ Đông năm 2018 của các bị cáo vi phạm pháp luật về Ngân sách Nhà nước; hành vi quản lý, sử dụng số tiền người dân đặt cọc mua ngô giống của các bị can là vi phạm pháp luật về Luật kế toán; Hành vi cua các bị cáo gây thiệt hại cho các hộ dân được hỗ trợ số tiền là 268.991.840đ (là tổng kinh phí được giao bổ sung 325.241.840đ cộng số tiền các hộ dân đăng ký mua ngô giống đã nộp tiền đặt cọc là 11.250.000đ trừ đi khoản ứng trước để mua ngô giống trồng vụ đông năm 2018 cho các hộ dân là 67.500.000đ). Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, căn cứ các Quyết định số 2026/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 và Quyết định số 188/QĐ-UBND ngày 17/01/2019 của UBND tỉnh V về việc phê duyệt dự toán, cấp kinh phí hỗ trợ sản xuất cây trồng vụ Đông năm 2018 thì toàn bộ số tiền 325.241.840đ là khoản dự toán giao có mục tiêu là hỗ trợ sản xuất cây vụ Đông năm 2018 cho các hộ dân thuộc diện được hỗ trợ. Sau khi được cấp bổ sung ngân sách, X2, C, D đã chi toàn bộ số tiền 325.241.840đ không đúng dự toán ngân sách được giao, chi sai đối tượng, sai mục đích dẫn đến không có tiền chi trả cho người dân. Như vậy, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra là gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước và người dân được hỗ trợ toàn bộ số tiền 325.241.840đ.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 133/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C, Lê Ngọc D phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với tất cả các bị cáo; Áp dụng: Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn C và Lê Ngọc D.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng X 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; xử phạt bị cáo Vũ Văn C 03 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Ngọc D, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 10 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Phùng X và Vũ Văn C; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Ngọc D, chuyển 03 năm tù sang 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; VKSND huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian giữa năm 2019 đến năm 2020, nhằm thuận lợi trong công tác của UBND xã V và bản thân, Nguyễn Phùng X - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã V đồng thời là chủ tài khoản thu, chi ngân sách xã V; Vũ Văn C- Công chức kế toán - ngân sách UBND xã V và Lê Ngọc D- Công chức văn phòng kiêm thủ quỹ UBND xã V đều là những người có chức vụ quyền hạn đã bàn bạc, thống nhất với nhau rút tiền dự toán được cấp trên giao để hỗ trợ kinh phí sản xuất cây vụ đông năm 2018 là 325.241.840đ tại Kho bạc nhà nước huyện V rồi sử dụng sai mục đích, không chi trả tiền hỗ trợ cho người dân được hưởng gây thiệt hại cho ngân sách được cấp là 325.241.840đ. Trong đó khoản UBND xã V có trách nhiệm chi trả cho 1.825 hộ dân đúng diện hỗ trợ với số tiền là 307.249.880đ và gây thất thoát số tiền kê khai khống là 17.991.960đ. Trong báo cáo của UBND xã V xác định toàn bộ số tiền trên đã sử dụng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội xã V được quyết toán tại kho bạc nhà nước huyện V. Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D đã khắc phục toàn bộ số tiền thiệt hại.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C, Lê Ngọc D tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Về tính chất của vụ án là tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất uy tín, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng, nhà nước về hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
[4]. Xét về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Phùng X và Vũ Văn C; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong vụ án này, Nguyễn Phùng X là Chủ tịch UBND xã V, chủ tài khoản đã không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, chỉ đạo Vũ Văn C, Lê Ngọc D sử dụng sai mục đích số tiền được cấp trên giao hỗ trợ kinh phí sản xuất cây vụ đông năm 2018 cho các hộ dân trên địa bàn xã V. Khi sử dụng không đúng số tiền trên, bản thân Nguyễn Phùng X được hưởng lợi 4.000.000đ tiền Tết Nguyên đán 2020 và được sử dụng 01 bộ bàn ghế có giá trị 35.000.000đ lấy từ nguồn tiền hỗ trợ, bị cáo có vai trò vai trò khởi xướng, chỉ đạo các đồng phạm khác thực hiện tội phạm nên có vai trò chính; còn đối với Vũ Văn C là kế toán ngân sách xã V có nhiệm vụ hạch toán, sử dụng ngân sách và các khoản tiền do nhà nước cấp đúng quy định của pháp luật, vì vụ lợi cá nhân bị cáo nhận thức và biết rõ việc chỉ đạo như trên của X là không đúng với quy định của Luật kế toán nhưng vẫn chấp hành sự chỉ đạo này dẫn đến sử dụng sai mục đích số tiền trên. Khi thực hiện tội phạm thì bản thân C cũng được hưởng lợi số tiền 2.000.000đ nên là đồng phạm có vai trò trực tiếp thực hiện tội phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm; căn cứ vào nhân thân của các bị cáo; hậu quả xảy ra, số tiền ngân sách nhà nước bị thiệt hại và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng X 05 năm 06 tháng tù, bị cáo Vũ Văn C 03 năm 02 tháng tù là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện. Xét thấy các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hiện nay ngày càng diễn biến phức tạp, gây nhiều hậu quả xấu trong xã hội, làm mất uy tín, giảm lòng tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng, nhà nước đề ra nên cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Quá trình giải quyết phúc thẩm Tòa án đã nhận được văn bản đề nghị của huyện ủy V1, văn bản đề nghị của UBND xã V và một số đơn của nhân dân xã V có nội dùng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi do các bị cáo thực hiện, vai trò của bị cáo X, bị cáo C trong vụ án; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội. Do vậy yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Phùng X và Vũ Văn C không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5]. Xét về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Lê Ngọc D; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong vụ án này, bị cáo Lê Ngọc D là thủ quỹ UBND xã V có nhiệm vụ chi trả ngân sách nhà nước phải đúng các khoản do pháp luật quy định, tuy nhiên bị cáo thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ của thủ quỹ, bị cáo chấp hành sự chỉ đạo của Nguyễn Phùng X là Chủ tịch UBND xã V và Vũ Văn C là kế toán ngân sách xã V để chi không đúng số tiền hỗ trợ cho người dân. Bản thân Lê Ngọc D cũng được hưởng lợi số tiền 2.000.000đ nên là đồng phạm có vai trò trực tiếp thực hiện tội phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm; căn cứ vào nhân thân của bị cáo; vai trò, vị trí của bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 03 năm tù là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện. Do vậy, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Ngọc D đã nhận thức rõ hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo khai báo thành khẩn và thực sự tỏ ra ăn năn hối cải. Quá trình giải quyết phúc thẩm Tòa án đã nhận được văn bản đề nghị của huyện ủy V1, văn bản đề nghị của UBND xã V và một số đơn của nhân dân xã V có nội dung đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo D cải tạo ngoài xã hội. Xét về vị trí, vai trò của bị cáo Lê Ngọc D trong vụ án chỉ là thứ yếu, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày bản thân mặc dù là thủ quỹ nhưng không được đào tạo về chuyên môn đầy đủ nên khi được Nguyễn Phùng X là Chủ tịch UBND xã kiêm chủ tài khoản và được Vũ Văn C là kế toán xã chỉ đạo sao thì thực hiện như vậy, bị cáo chỉ nghĩ chỉ đơn thuần là thủ quỹ thì chi theo sự chỉ đạo của chủ tài khoản và kế toán nên chấp hành. Xét thấy bị cáo Lê Ngọc D là người có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, lần đầu phạm tội; đã nhận thức rõ ràng, đầy đủ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, tham gia thực hiện tội phạm với vai trò thứ yếu nên việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, không ảnh hưởng tới việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, không trái với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là phù hợp.
[6]. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Ngọc D là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C phải chịu án phí.
Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Lê Ngọc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc D; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đối với bị cáo Lê Ngọc D.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phùng X, Vũ Văn C và Lê Ngọc D phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng X 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 03 (Ba) năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Ngọc D cho UBND thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015: Cấm bị cáo Lê Ngọc D đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến kế toán, thủ quỹ trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Phùng X và Vũ Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lê Ngọc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Vĩnh Thành Nguyễn Thị Thu Hiền |
Nguyễn Duy Sơn |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sơn |
Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 24/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phùng X và đồng phạm, phạm tội "Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ"
