|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-PT Ngày: 11/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc
Các Thẩm phán: 1/ Ông Thái Quang Hải
2/ Bà Lê Thị Minh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Lê Văn H và Võ Trường V do có kháng cáo của các bị cáo, người bị hại và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Lê Văn H, sinh năm 1983 tại Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; họ tên cha: Lê Văn T (chết); họ tên mẹ: Dương Thị Đ, sinh năm 1952 (sống); họ tên vợ: Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1985; con có 01 người, sinh năm 2015; anh, chị, em ruột: 03 người, lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Võ Trường V, sinh năm 2002 tại Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm thuê; họ tên cha: Võ Trường L1 (chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị L2 (chết); anh ruột: 02 người, lớn - sinh năm 1998, nhỏ - sinh năm 1999; tiền án: Chưa.
Tiền sự: 01 lần. Ngày 12/12/2022 bị Công an quận T xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ nhằm cố ý gây thương tích người khác. Chưa đóng phạt.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- Ông Lê Văn L3, sinh năm 1980. (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1987. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
· Người làm chứng: Bà Lê Thị Cẩm L4, sinh năm 1975. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất từ trước nên vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, Lê Văn H (Đức) đi công việc về nhà tại Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thấy Lê Văn L3, Nguyễn Thị Ngọc G (anh ruột, chị dâu của H sống cùng nhà với H) và Đàm Văn A đang ngồi nhậu ở trong nhà gần chỗ bếp ăn; H nói với A là không cho A lại nhà nhậu nữa, L3 và G cho rằng nhà này không phải của H tại sao lại không cho A lại; A cũng nói với H: nếu nhà này của H thì đưa giấy tờ ra xem; H chửi A. Liền lúc này, G đi về hướng của H nói: nhà này của H hay gì. Do bực tức H dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào mắt trái G, Trần Thị Ngọc L (vợ của H) can ngăn và đẩy H vào phòng ngủ; L3 ở bên ngoài liên tục chửi H và thách H đánh nhau, H điện thoại rủ Võ Trường V đến đánh L3, V đồng ý. Sau đó, H đi ra nói chuyện với L3 thì hai bên xảy ra cự cải và vật nhau xuống nền nhà; khi V đến nhà H nhìn thấy H và L3 đang vật nhau nên V nhặt khúc cây gỗ xông vào đánh 02 - 03 cái trúng vào tay phải của L3 thì được mọi người can ngăn.
Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Thị Ngọc G đến Công an phường T trình báo (Bút lục 03). Đến ngày 14/5/2024 Lê Văn L3 giao nộp: 01 (một) khúc cây gỗ màu nâu đỏ, dài 84cm. (Bút lục 32)
Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 308/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/6/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y đối với Nguyễn Thị Ngọc G, kết luận: (Bút lục I - 96)
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Ngọc G tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng lại Thông tư.
- Căn cứ các tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp và tính chất của các tổn thương do thương tích gây nên của bà Nguyễn Thị Ngọc G tại thời điểm giám định phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 310/KLTTCT-TTPYCT ngày 25/6/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận: (Bút lục 98 - 99)
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn L3 tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng lại Thông tư.
- Căn cứ các tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp và tính chất của các tổn thương do thương tích gây nên của ông Lê Văn L3 tại thời điểm giám định phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Kết luận giám định vật gây thương tích số 40/KLVGTT-TTPYCT ngày 26/6/2024 của Trung tâm P, kết luận: (Bút lục 101 -102)
- Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến (khúc cây gỗ) đối với thương tích của ông Lê Văn L3:
- + Phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật giám định có thể gây ra vết sưng bầm da ở vùng đỉnh phải, đau mỏi ở vùng cổ - gáy, sưng nề vùng mũi kèm tổn thương nông ở vùng mũi phải, đau bầm ở vùng bả vai phải, đau bầm ở vùng ngực và vết thương ở mặt sau khuỷu tay phải của ông Lê Văn L3.
- + Không phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật giám định không thể gây ra thương tích đụng giập để lại vết biến đổi sắc tố da ở vùng ngực phải trên hạ sườn bên phải của ông Lê Văn L3.
- Căn cứ Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP, ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định mẫu vật giám định (khúc cây gỗ) là hung khí nguy hiểm.
Quá trình điều tra, Lê Văn H, Võ Trường V đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đang tạm giữ theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn L3 yêu cầu Lê Văn H và Võ Trường V bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác với số tiền 30.340.000 đồng (Bút lục 107), Võ Trường V đồng ý bồi thường 30.340.000 đồng (Bút lục 151 - 152); Nguyễn Thị Ngọc G yêu cầu Lê Văn H bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác với số tiền 90.718.000 đồng (Bút lục 107), Lê Văn H đồng ý bồi thường cho G với số tiền 20.000.000 đồng(Bút lục 141 - 142).
Tại bản án hình sự số 97/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
- * Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn H, Võ Trường V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào Các Điều 17, 38, các điểm b,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 khoản Điều 52, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào các Điều 17, 38, các điểm b,i,s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Võ Trường V 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật Hình sự; các Điều 357,468,584,585,587,590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- - Bị cáo Võ Trường V, Lê Văn H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê Văn L3 tổng số tiền 22.091.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo V tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002040, ngày 14/11/2024. Bị hại ông L3 được nhận số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt. Các bị cáo V, H còn phải tiếp tục trả cho bị hại ông L3 số tiền 12.091.000 đồng.
- - Bị cáo Lê Văn H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc G số tiền 32.838.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo H tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002039, ngày 29/10/2024. Bị hại G được nhận số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt. Bị cáo H còn phải tiếp tục trả cho bị hại bà G số tiền 2.838.000 đồng.
Về thời gian và phương thức thanh toán sẽ giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thẩm quyền.
Kể từ khi người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu các bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm:
- Ngày 22/11/2024 bị cáo Lê Văn H, bị cáo Võ Trường V1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ.
- Ngày 02/12/2024 người bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc G kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt tù đối với bị cáo Lê Văn H và yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 114.419.000 đồng.
- Ngày 02/12/2024 người bị hại ông Lê Văn L3 kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt với các bị cáo Lê Văn H, Võ Trường V và yêu cầu các bị cáo H, V liên đới bồi thường cho ông L3 số tiền 48.431.000 đồng.
- Ngày 17/12/2024 Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Cần Thơ, kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn H và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Trường V. Đồng thời tăng hình phạt đối với các bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo ở ngoài để bị cáo chăm sóc bà ngoại.
Về trách nhiệm dân sự;
- Bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 114.419.000 đồng theo yêu cầu của bà G.
- Bị cáo H, bị cáo V đồng ý liên đới bồi thường cho ông L3 số tiền 48.431.000 đồng theo yêu cầu của ông L3.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc G yêu cầu tăng nặng hình phạt tù đối với bị cáo Lê Văn H và yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 114.419.000 đồng.
Ông Lê Văn L3 yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo H, bị cáo V và yêu cầu các bị cáo H, V liên đới bồi thường cho ông L3 số tiền 48.431.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích.
Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn H đã có hành vi gây thương tích cho Nguyễn Thị Ngọc G và Lê Văn L3 tại hai thời điểm khác nhau với mỗi lần phạm tội đều đủ yếu cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.
Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xác định Lê Văn H “phạm tội 02 lần” nhưng không áp dụng tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt mà áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, từ đó áp dụng khoản 1 Điều 134 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là chưa chính xác, sai lầm trong áp dụng pháp luật hình sự nên tuyên phạt bị cáo mức án chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội.
Đối với bị cáo Võ Trường V tuy không mâu thuẫn gì với bị hại L3 nhưng khi được sự rủ rê của bị cáo H đã dùng khúc gỗ gây thương tích cho bị hại L3 nên hành vi của bị cáo V thỏa mãn hai tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt nhận định Võ Trường V “Dùng hung khí nguy hiểm” để gây thương tích nhưng không áp dụng tình tiết này là tình tiết định tội mà chỉ áp dụng khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là chưa đầy đủ, đồng thời không áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo V theo điểm i khoản 1 Điều 134 BLHS, nên tuyên phạt bị cáo mức án không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội.
Ngày 17/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 56/QĐ-VKS-P7 kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn H và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Trường V đồng thời tăng hình phạt đối với bị cáo theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ giữ nguyên kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ và kháng cáo của các bị hại về phần trách nhiệm hình sự, sửa Bản án sơ thẩm số 97/2004/HS – ST ngày 19 tháng 11 năm 2004 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Trường V. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo và các bị hại.
Ngoài ra Viện kiểm sát còn nhận định và đề nghị rút kinh nghiệm đối với Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt trong việc ban hành Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án không phù hợp, không đúng quy định tại Điều 261 Bộ luật tố tụng hình sự.
Luật sư Võ Thanh T1 bào chữa cho bị cáo Lê Văn H trình bày quan điểm:
Luật sư thống nhất với quan điểm của Bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo H. Luật sư không thống nhất với Bản án sơ thẩm về việc áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Luật sư thống nhất mức bồi thường cấp sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H và bị cáo V chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của người bị hại, mặt dù yêu cầu bị hại có căn cứ hay không có căn cứ. Điều này chứng minh bị cáo H đã ăn năn hối cải. Đối với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên, căn cứ vào biên bản lời khai của các người bị hại thể hiện sự việc xảy ra chỉ trong 10 đến 15 phút không có thời gian ngắt quãng, bị cáo H không phải vào phòng nghỉ ngơi mà do vợ bị cáo H đẩy vào, nên Viện kiểm sát cho rằng bị cáo phạm tội 02 lần là không đúng, gây ảnh hưởng đến việc truy tố bị cáo. Đề nghị Viện kiểm sát rút kháng nghị.
Đối với bị cáo V luật sư không có bào chữa, tuy nhiên luật sư cho rằng bị cáo V phạm tội không có tính chất côn đồ vì lực bị cáo V đánh bị hại L3 không đáng kể, nếu cho rằng bị cáo V dùng hung khí nguy hiểm là chưa phù hợp. Kiến nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, bị cáo có nhân thân tốt, sự việc xảy ra lỗi chia điều cho cả hai bên. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo H được hưởng án treo.
Luật sư Đặng Trọng T2 bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị hại trình bày: Luật sư thống nhất quan điểm với viện kiểm sát, cấp sơ thẩm xử bị cáo H ở khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không đúng pháp luật, tại phiên tòa sơ thẩm luật sư có đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nhưng không được tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, bị cáo H không có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo H trình bày có nhờ người qua xin lỗi người bị hại là hoàn toàn không có. Viện kiểm sát đề nghị mức án bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng là phù hợp.
Đối với bị cáo V: Cấp sơ thẩm không áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 là không đúng, phần này luật sư đã trình bày ở cấp sơ thẩm nhưng không được chấp nhận. Luật sư thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát mức án của bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại về số tiền bồi thường cho bà G và ông L3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Viện kiểm sát kháng nghị, bị cáo kháng cáo, người bị hại kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
[2] Đối chiếu tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Bị cáo Lê Văn H và bị hại Lê Văn L3 là anh em ruột, vợ chồng bị cáo, vợ chồng bị hại sống chung nhà, trước đó anh em đã phát sinh mâu thuẫn liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất. Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 13/5/2024, bị cáo H về nhà thấy bị hại ông Lê Văn L3, bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Đàm Văn A ăn nhậu nên xảy ra cự cãi. Do bực tức trước lời nói của bị hại bà G nên bị cáo H dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào mắt trái bị hại G. Hành vi của bị cáo H dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào mắt trái của bị hại G gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 12%, thì được vợ bị cáo H là bà Trần Thị Ngọc L can ngăn kéo bị cáo H vào phòng ngủ.
Lúc này, bị hại L3 ở bên ngoài liên tục chửi bị cáo H thách H đánh nhau, bị cáo H điện thoại rủ bị cáo Võ Trường V đến đánh nhau với bị hại L3 và bị cáo V đồng ý. Sau đó, bị cáo H đi ra nói chuyện với bị hại L3 thì hai bên xảy ra cự cãi và vật nhau xuống nền nhà, bị cáo V đến nhà nhìn thấy bị cáo H và L3 đang vật nhau nên bị cáo V nhặt khúc cây gỗ màu nâu đỏ, dài 84cm là hung khí nguy hiểm xông vào đánh trúng vào tay phải bị hại L3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 03%. Hành vi thực hiện của 02 bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của người bị hại:
[3.1] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát:
Bị cáo H đã có hành vi gây thương tích cho Nguyễn Thị Ngọc G và Lê Văn L3 tại hai thời điểm khác nhau, với mỗi lần phạm tội đều đủ yếu cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.
Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xác định Lê Văn H “phạm tội 02 lần” nhưng không áp dụng tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt mà áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, từ đó áp dụng khoản 1 Điều 134 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là chưa chính xác, sai lầm trong áp dụng pháp luật hình sự nên tuyên phạt bị cáo mức án chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Theo quy định pháp luật bị cáo phạm tội 02 lần thì phải áp dụng định khung tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo, nhưng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần là tình tiết tăng nặng là chưa đúng, nên Viện kiểm sát kháng nghị là căn cứ đúng quy định pháp luật.
Đối với bị cáo Võ Trường V tuy không mâu thuẫn gì với bị hại L3 nhưng khi được sự rủ rê của bị cáo H đã dùng khúc gỗ gây thương tích cho ông L3 nên hành vi của bị cáo V thỏa mãn hai tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt nhận định bị cáo Võ Trường V “Dùng hung khí nguy hiểm” để gây thương tích cho bị hại L3 là 3% được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nên tuyên phạt bị cáo mức án chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nên Viện kiểm sát kháng nghị là căn cứ đúng quy định pháp luật.
[3.2] Đối với kháng cáo của cáo H và bị cáo V:
Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, qua đó cũng nhằm đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội đối với những ai muốn giải quyết mâu thuẫn bằng biện pháp bạo lực.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng:
Về tình tiết tăng nặng: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H có hành vi rủ rê bị cáo V gây thương tích cho bị hại L3 nên bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả cho các bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Riêng bị cáo V phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo V.
Tại giai đoạn phúc thẩm: Bị cáo H và bị cáo V không cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, do đó không chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo.
Do lấy tình tiết phạm 02 lần để định khung hình phạt, nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H. Bị cáo V phạm tội tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 nên Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 đối với bị cáo V.
[3.3] Xét kháng cáo của người bị hại bà G và ông L3:
Kháng cáo về mức hình phạt: Yêu cầu tăng mức hình phạt của 02 bị hại giống kháng nghị của Viện kiểm sát, phần này đã được nhận định như trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 114.419.000 đồng cho bà G.
Bị cáo H, bị cáo V đồng ý liên đới bồi thường cho ông L3 số tiền 48.431.000 đồng. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận.
Từ những phân tích nên trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, chấp nhận kháng cáo của người bị hại về mức hình phạt. Không nhận kháng cáo của hai bị cáo, quan điểm của Luật sư bào chữa cho hai bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H, Võ Trương V2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn H, Võ Trường V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào các Điều 17, 38; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào các Điều 17, 38; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Võ Trường V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa các bị cáo và những người bị hại như sau:
- - Bị cáo Võ Trường V, Lê Văn H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê Văn L3 tổng số tiền 48.431.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo V tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002040 ngày 14/11/2024. Bị hại ông L3 được nhận số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Các bị cáo V, H còn phải tiếp tục trả cho bị hại ông L3 số tiền 38.431.000 đồng.
- - Bị cáo Lê Văn H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc G số tiền 114.419.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo H tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002039 ngày 29/10/2024. Bị hại G được nhận số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Bị cáo H còn phải tiếp tục trả cho bị hại bà G số tiền 84.419.000 đồng.
Về thời gian và phương thức thanh toán sẽ giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thẩm quyền.
Kể từ khi người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu các bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì các bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị cáo H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 5.181.725 đồng.
- Bị cáo V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 960.775 đồng.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Quốc |
Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 24/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội gây rối trật tự công cộng
