|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-PT Ngày: 10/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Võ Nguyên Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 14/2025/QĐ-HS ngày 12/02/2025 do có kháng cáo của bị cáo Ma Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu – tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo: Ma Hoàng V
– sinh ngày 08/10/1987 tại Sông C, Phú Yên; nơi thường trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn Đ – sinh năm 1943, bà Nguyễn Thị E – sinh năm 1954; có vợ tên Trần Tiểu M – sinh năm 1995 và 01 con – sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 21/10/2020 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, đã nộp phạt ngày 11/3/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 cho tại ngoại, bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024 đến nay tại Phân Trại tạm giam khu vực thị xã S. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Bà Ma Thị Kim N, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Ma Hoàng V có: Ông Ngô Thiên P – Luật sư VPLS Nhật K thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.
Người tham gia tố tụng liên quan đến nội dung kháng cáo:
+ Ông Phan Chí T, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Bà Phạm Thị Bích V1, sinh năm 1976, nơi thường trú: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1972, địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1978; nơi thường trú: Khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện nay: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Bà Võ Thị Mỹ T1, sinh năm 1986; nơi thường trú: T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện nay: Khu phố D, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
+ Ông Cao Quốc B, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
+ Ông Ma Trung T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 21/4/2023 đến 21/5/2023, tại địa bàn thị xã S, tỉnh Phú Yên, Ma Hoàng V đã cho 05 người vay tiền với lãi suất cao nhằm hưởng lợi với tổng số tiền gốc là 265.000.000đ, tổng số tiền lãi mà 05 người vay đã trả cho V là 246.550.000đ (trong đó 8.923.288đ tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm, 237.626.712đ tiền lãi thu lợi bất chính), cụ thể:
[1] Phan Chí T:
Lần thứ nhất: Vào ngày 25/4/2023, V cho T vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, tức mỗi tháng anh T phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là 2.000.000đ; Viện đưa đủ số tiền vay cho anh T, sau đó anh T về chuyển khoản số tiền 2.000.000đ (Viện thu trước tiền lãi 01 tháng) qua số tài khoản ngân hàng S của Viện là D. Hàng tháng, anh T đã trả tiền lãi đều đến tháng 10/2023, tổng cộng 07 (bảy) tháng tiền lãi, mỗi tháng trả tiền lãi 2.000.000đ. Tổng cộng số tiền lãi anh T đã trả cho Ma Hoàng V là: 07 x 2.000.000₫ = 14.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 1.150.685đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 12.849.315đ. Sau đó anh T đã trả hết tiền gốc khoản vay này.
Lần thứ hai: Vào ngày 14/5/2023, V cho T vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày anh T phải trả cho Viện số tiền lãi 600.000đ, anh T nhận đủ số tiền 20.000.000đ và chuyển khoản ngân hàng cho Viện 600.000₫ là tiền lãi thu trước 01 ngày. Hàng ngày, anh T chuyển khoản trả tiền lãi cho Ma Hoàng V, trả đến ngày 23/11/2023 thì trả hết tiền gốc khoản vay này (quá trình trả tiền lãi, anh T có trả bớt khoản tiền vay, rồi vay lại và tiếp tục trả tiền lãi). Tổng số tiền lãi anh T đã trả cho Ma Hoàng V đối với khoản vay này là:
84.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 1.534.247đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 82.465.753đ.
Như vậy, tổng số tiền lãi thực tế anh T đã trả cho Ma Hoàng V trong hai lần vay trên là: 98.000.000đ (chín mươi tám triệu đồng); trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 2.684.932đ; tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là: 95.315.068đ.
[2] Nguyễn Thị Thu H:
Lần thứ nhất: Vào ngày 21/4/2023, V cho H vay số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, tức mỗi tháng chị H phải trả cho Viện số tiền lãi là 20.000.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H chỉ nhận được số tiền: 80.000.000đ. Từ thời điểm vay đến thời hạn 01 tháng sau, mỗi ngày chị H chuyển trả tiền gốc cho Viện 1.000.000đ. Đến ngày 20/5/2024, chị H chuyển cho Viện số tiền 15.000.000đ, trong đó có 14.000.000đ là tiền lãi của phần tiền gốc 70.000.000đ còn lại (sau khi trừ 30.000.000đ tiền gốc đã trả hàng ngày) và 1.000.000đ là tiền gốc tiếp tục trả của số tiền vay còn lại.
Lần thứ hai: Sau ít ngày (kể từ ngày 21/4/2023), chị H tiếp tục liên hệ Viện vay thêm số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận là 20%/tháng, tức mỗi tháng chị H phải trả số tiền lãi cho Ma Hoàng V là 4.000.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H chỉ nhận được số tiền: 16.000.000đ.
Tổng số tiền gốc chị H đã trả cho Ma Hoàng V là: 51.000.000đ; hiện còn nợ lại số tiền gốc là: 69.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền lãi chị H đã trả cho Ma Hoàng V là: 38.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 3.123.288đ; tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là: 34.876.712đ.
[3] Phạm Thị Bích V1:
Vào ngày 07/5/2023, chị V1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị V1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 600.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 ngày; Chị V1 đã trả tiền lãi cho Viện 06 ngày, sau đó trả hết khoản tiền vay. Tổng số tiền lãi chị V1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 06 x 600.000₫ = 3.600.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 65.753đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 3.534.247₫.
[4] Nguyễn Thị Kim P1:
Ngày 08/5/2023, chị P1 liên hệ vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị P1 phải trả tiền lãi cho Ma Hoàng V số tiền 1.500.000đ. Khoản vay này chị P1 chỉ trả tiền lãi được 02 tháng, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị P1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 1.500.000đ = 3.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 164.384đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 2.853.616đ.
[5] Trần Thị Kim H1:
Lần thứ nhất: Vào ngày 02/5/2023, chị H1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả tiền lãi cho Ma Hoàng V số tiền: 3.000.000đ, Viện thu tiền lãi trước 01 tháng, chị H1 chỉ nhận được số tiền 7.000.000đ. Khoản vay này chị H1 chỉ tiền lãi được 03
tháng, sau đó không có khả năng trả lãi. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V: 03 x 3.000.000đ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849₫.
Lần thứ hai: Vào ngày 05/5/2023, chị H1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 300.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi được 67 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 67 x 300.000đ = 20.100.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 367.123đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 19.732.877d.
Lần thứ ba: Vào ngày 07/5/2023, chị H1 nhờ chị Nguyễn Thị Kim P1 vay của Ma Hoàng V số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 600.000đ; Viện thu tiền lãi trước một ngày, chị H1 chỉ nhận được số tiền 19.400.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 10/7/2023, tổng cộng 67 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 67 x 600.000₫ = 40.200.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 734.247đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 39.465.753đ.
Lần thứ tư: Vào ngày 08/5/2024, chị H1 nhờ chị Nguyễn Thị Kim P1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 4.500.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng. Khoản vay này chị H1 chỉ trả tiền lãi được 02 tháng (đã bao gồm tiền lãi thu trước), sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 4.500.000đ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849đ.
Lần thứ năm: Vào ngày 12/5/2023, chị H1 tiếp tục vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 150.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 18/5/2023, tổng cộng 07 ngày, sau đó trả hết khoản vay này. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 07 x 150.000đ = 1.050.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 19.178đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 1.030.822₫.
Lần thứ sáu: Vào ngày 14/5/2023, chị H1 vay của Ma Hoàng V số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 150.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 15/5/2023, tổng cộng 02 ngày, sau đó trả hết khoản vay này. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 150.000đ = 300.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 5.479đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 294.521₫.
Lần thứ bảy: Vào ngày 16/5/2023, chị H1 nhờ chị Phạm Thị Bích V1 liên hệ Ma Hoàng V vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, tức mỗi tháng chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 4.500.000đ; Viện thu tiền lãi trước 01 tháng. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi được 02 tháng (đã bao gồm tiền lãi thu trước), sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi
chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 02 x 4.500.000đ = 9.000.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 493.151đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 8.506.849₫.
Lần thứ tám: Vào ngày 21/5/2023, chị H1 vay của Ma Hoàng V số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, tức mỗi ngày chị H1 phải trả cho Ma Hoàng V số tiền lãi là: 300.000đ. Khoản vay này chị H1 đã trả tiền lãi đến ngày 10/7/2023, tổng cộng 51 ngày, sau đó không có khả năng trả tiền lãi nữa. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V là: 51 x 300.000đ = 15.300.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 279.452đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 15.020.548₫.
Như vậy, tổng số tiền lãi thực tế chị H1 đã trả cho Ma Hoàng V đối với 08 lần vay nêu trên là: 103.950.000đ; trong đó số tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là: 2.884.932đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 101.065.068₫.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã tuyên bố bị cáo Ma Hoàng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng các điều 38, 46, 47, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2, 3 Điều 201 Bộ luật hình sự; các điều 106, 135, 136, 291, 292, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt:
Bị cáo Ma Hoàng V 03 (ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày tuyên án (bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên toà). Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Ma Hoàng V: số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), nộp một lần vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ngày 18/11/2024, bị cáo Ma Hoàng V kháng cáo kêu oan. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Ma Hoàng V nộp đơn trình bày và xin giảm nhẹ hình phạt; tác động gia đình nộp tiền phạt bổ sung 30.000.000đ và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; hoàn trả cho cho bà Phạm Thị Bích V1 và bà Nguyễn Thị Kim P1 số tiền lãi đã thu lợi bất chính của họ để khắc phục hậu quả và được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 03/12/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N kháng cáo phần nhận định của bản án sơ thẩm, yêu cầu Toà án phúc thẩm xác định lại chị N không có hành vi giúp sức cho bị cáo Ma Hoàng V phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên, mức án sơ thẩm là quá nặng; bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, không kêu oan mà xin giảm nhẹ hình phạt tù, hình phạt tiền và xin được hưởng án treo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Cấp sơ cấp truy tố, xét xử bị cáo Ma Hoàng V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ma Hoàng V đã thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho những người liên quan và nộp phạt bổ sung 30.000.000đ, nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ, là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm mức hình phạt; áp dụng các khoản 2, 3 Điều 201, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ma Hoàng V mức án từ 18 đến 24 tháng tù, phạt bổ sung 100.000.000đ.
Đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đề nghị không xem xét.
- Người bào chữa tranh luận và đề nghị: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với mức án 03 năm tù và phạt bổ sung 100.000.000đ là quá nặng, không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho những người liên quan và được bãi nại, đã nộp phạt bổ sung 30.000.000₫ và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và điểm c khoản 1 Điều 357 BLHS, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt tù, hình phạt tiền với mức án thấp hơn mức kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N kháng cáo trong thời hạn luật định nên HĐXX tiến hành xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 21/4/2023 đến 21/5/2023, tại địa bàn thị xã S, tỉnh Phú Yên, Ma Hoàng V đã
cho 05 người vay tiền với lãi suất cao hơn gấp 05 lần mức lãi suất 20%/năm do Bộ luật Dân sự 2015 quy định nhằm hưởng lợi. Tổng số tiền gốc là 265.000.000đ, số tiền lãi mà 05 người vay đã trả cho V là 246.550.000đ (Trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm là 9.005.571đ, tiền lãi thu lợi bất chính là 237.544.519₫). Cụ thể:
[2.1] Cho Phan Chí T vay 02 lần với tổng tiền gốc 30.000.000đ, đã thu hết gốc; thu lợi bất chính 95.299.086 đồng:
Lần thứ nhất: Ngày 25/4/2023, Viện cho T vay 10.000.000đ (Mười triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, đã thu lãi 07 tháng với số tiền 14.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là: 10.000.000₫ x 20%/năm x 07 tháng = 1.166.667đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 12.833.333₫.
Lần thứ hai: Ngày 14/5/2023, Viện cho T vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, đã thu lãi 140 ngày với số tiền 84.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là: 20.000.000₫ x 20%/năm x 140 ngày = 1.534.247đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là: 82.465.753đ.
[1.2] Cho Nguyễn Thị Thu H vay 02 lần với tổng tiền gốc là 120.000.000đ, đã thu gốc 51.000.000đ, còn nợ 69.000.000đ; thu lợi bất chính 34.833.332₫:
Lần thứ nhất: Ngày 21/4/2023, Viện cho H vay 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, đã thu lãi 01 tháng với số tiền 20.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là: 100.000.000đ x 20%/năm x 01 tháng = 1.666.667đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là 18.333.333₫.
Tính đến ngày 20/5/2023, chị H đã trả tiền gốc cho T 30.000.000đ, còn nợ lại 70.000.000đ, lãi suất 20%/tháng, đã thu lãi 01 tháng với số tiền 14.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là: 70.000.000₫ x 20%/năm x 01 tháng = 1.166.667đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là 12.833.333đ.
Lần thứ hai: Sau ít ngày (kể từ ngày 21/4/2023), Viện cho chị H vay 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), lãi suất 20%/tháng, đã thu lãi 01 tháng với số tiền 4.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là: 20.000.000₫ x 20%/năm x 01 tháng = 333.334đ; số tiền lãi thu lợi bất chính là 3.666.666đ.
[2.3] Cho Phạm Thị Bích V1 vay 01 lần với tiền gốc 20.000.000đ, đã thu hết gốc; thu lợi bất chính 3.534.247đ: Ngày 07/5/2023, Viện cho chị V1 vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, đã thu lãi 06 ngày với số tiền 3.600.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 65.753đ và thu lợi bất chính là 3.534.247₫.
[2.4] Cho Nguyễn Thị Kim P1 vay 01 lần với tiền gốc 5.000.000đ, chưa thu gốc; thu lợi bất chính 2.833.333đ: Ngày 08/5/2023, Viện cho chị P1 vay 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, thời gian đã thu lãi 02 tháng với số tiền 3.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 166.667đ và thu lợi bất chính là 2.833.333đ.
[2.5] Cho Trần Thị Kim H1 vay 08 lần với tổng tiền gốc 90.000.000đ, đã thu gốc 10.000.000đ, còn nợ 80.000.000đ; thu lợi bất chính 101.044.521đ:
Lần thứ nhất: Ngày 02/5/2023, Viện cho chị H1 vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, thời gian đã thu lãi 03 tháng với số tiền 9.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 500.000đ và thu lợi bất chính là 8.500.000₫.
Lần thứ hai: Ngày 05/5/2023, Viện cho chị H1 vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, thời gian đã thu lãi 67 ngày với số tiền 20.100.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 367.123đ và thu lợi bất chính là 19.732.877₫.
Lần thứ ba: Ngày 07/5/2023, Viện cho chị H1 vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, thời gian đã thu lãi 67 ngày với số tiền 40.200.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 734.247đ và thu lợi bất chính là 39.465.753₫.
Lần thứ tư: Ngày 08/5/2024, Viện cho chị H1 vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, thời gian đã thu lãi 02 tháng với số tiền 9.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 500.000đ và thu lợi bất chính là 8.500.000₫.
Lần thứ năm: Ngày 12/5/2023, Viện cho chị H1 vay 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, thời gian đã thu lãi 07 ngày với số tiền 1.050.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 19.178đ và thu lợi bất chính là 1.030.822₫.
Lần thứ sáu: Ngày 14/5/2023, Viện cho chị H1 vay 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, thời gian đã thu lãi 02 ngày với số tiền 300.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 5.479đ và thu lợi bất chính là 294.521đ. Chị H1 đã trả gốc cho Viện.
Lần thứ bảy: Ngày 16/5/2023, Viện cho chị H1 vay 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), lãi suất 30%/tháng, thời gian đã thu lãi 02 tháng với số tiền 9.000.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 500.000đ và thu lợi bất chính là 8.500.000₫.
Lần thứ tám: Ngày 21/5/2023, Viện cho chị H1 vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất 03%/ngày, thời gian đã thu lãi 51 ngày với số tiền 15.300.000đ. Trong đó, tiền lãi theo lãi suất 20%/năm là 279.452đ và thu lợi bất chính là 15.020.548₫.
Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xác định tiền lãi theo mức lãi suất 20% được khấu trừ để loại trừ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là chưa chính xác. Thực tế, trong số tiền lãi 246.550.000đ bị cáo đã thu thì có 9.005.481₫ là tiền lãi theo mức 20%/năm và số tiền thu lợi bất chính là 237.544.519đ. Thiếu sót này của cấp sơ thẩm không làm thay đổi bản chất của vụ án cũng như khung hình phạt đã truy tố, xét xử nên không cần phải hủy án sơ thẩm nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nhiệm.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Ma Hoàng V: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, lợi ích tài chính của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Tuy nhiên, án sơ thẩm áp dụng mức phạt tù và phạt bổ sung bằng hình phạt tiền mức cao nhất trong khung hình phạt là quá nặng, không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho những người liên quan Phạm Thị Bích V1, Nguyễn Thị Kim P1 và được họ xin giảm nhẹ hình phạt; tác động gia đình nộp tiền phạt bổ sung 30.000.000đ và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm là thể hiện thái độ thật sự hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N: Tại phần nhận định [2.8] của bản án sơ thẩm xác định một điện thoại Iphone 14 Pro Max do bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội bị thu giữ không phải của bà N mua đưa cho bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nhưng tại mục [2.9] lại nhận định “Trường hợp Ma Thị Kim N, Ma Trung T2 có hành vi mua điện thoại, sim số cung cấp cho Ma Hoàng V sử dụng trong việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là có dấu hiệu đồng phạm giúp sức, thì xem xét xử lý bằng vụ án khác” là không phù hợp với các tình tiết, sự kiện đã được chứng minh trong vụ án. Do đó, HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo của bà N, sửa nội dung nhận định của bản án sơ thẩm, xác định bà N, ông T2 không có hành vi giúp sức bị cáo V phạm tội trong vụ án này.
[5] Biện pháp tư pháp: Do xác định lại số tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm và tiền lãi thu lợi bất chính nên cần điều chỉnh lại số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm mà bị cáo phải nộp để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; và số tiền lãi thu lợi bất chính phải trả lại cho những người liên quan cho phù hợp. Cụ thể:
Bị cáo Ma Hoàng V phải nộp lại số tiền vay gốc mà những người liên quan đã trả cho bị cáo là 111.000.000đ; số tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã nhận là 9.005.519₫.
Bị cáo Ma Hoàng V phải trả lại tiền lãi thu lợi bất chính cho những người liên quan sau: Trả cho ông Phan Chí T số tiền 95.299.086đ; trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 34.833.332đ; trả cho bà Trần Thị Kim H1 số tiền 101.044.521đ; trả cho bà Phạm Thị Bích V1 số tiền 3.534.247đ; trả cho Nguyễn Thị Kim P1 số tiền 2.833.333₫.
Bà Phạm Thị Bích V1 đã nhận đủ số tiền 3.534.247đ và bà Nguyễn Thị Kim P1 đã nhận đủ số tiền 2.833.333đ của gia đình bị cáo V trả thay cho bị cáo trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nên số tiền này được khấu trừ khi thi hành án.
[6] Bị cáo Ma Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Khoản tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm do gia đình bị cáo Ma Hoàng V nộp thay cho bị cáo được khấu trừ trong quá trình thi hành án.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Hoàng V – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo;
Tuyên bố: Bị cáo Ma Hoàng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng các khoản 2, 3 Điều 201, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Xử phạt bị cáo Ma Hoàng V: 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 15/11/2024, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024;
Phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); được khấu trừ vào số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) do bị cáo Ma Hoàng V nộp (Võ Thị Mỹ T1 nộp thay cho bị cáo V) theo Biên lai thu tiền 0000217 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
2. Biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo Ma Hoàng V phải nộp lại số tiền 111.000.000đ (Một trăm mười một triệu đồng) và 9.005.519₫ (Chín triệu không trăm lẻ năm nghìn năm trăm mười chín đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo Ma Hoàng V phải trả lại cho ông Phan Chí T số tiền 95.299.086₫ (Chín mươi lăm triệu hai trăm chín mươi chín nghìn không trăm tám mươi sáu đồng); trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 34.833.332đ (Ba mươi bốn triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi hai đồng); trả lại cho bà Trần Thị Kim H1 số tiền 101.044.521đ (Một trăm lẻ một triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm mười hai đồng); trả lại cho bà Phạm Thị Bích V1 số tiền 3.534.247₫ (Ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng); trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim P1 số tiền 2.833.333đ (Hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Bà Phạm Thị Bích V1 đã nhận đủ số tiền 3.534.247đ (Ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng) và bà Nguyễn Thị Kim P1 đã nhận đủ số tiền 2.833.333đ (Hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) của gia đình bị cáo Ma Hoàng V trả thay cho bị cáo V nên được khấu trừ khi thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Ma Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ma Thị Kim N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thơ Hiền |
Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 24/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Hoàng V - Cho vay lãi nặng
