|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 6 - 2025
V/v: ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Hoài Anh
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Nga và bà Ngô Thị Như Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Ninh Viết Tùng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Toản – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 122/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/4/2025 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đặng Thị Minh H, sinh năm 1971.
- Bị đơn: anh Nguyễn Xuân S, sinh năm 1968.
- Cùng trú tại: số nhà G, ngõ A đường A, tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
-
Trong đơn khởi kiện và tại lời khai trong suốt quá trình tố tụng, nguyên đơn chị H trình bày:
Chị với anh Nguyễn Xuân S kết hôn năm 1991 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P. Quá trình chung sống, thời gian đầu bình thường. Đến năm con gái lớn học cấp II thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do anh S chơi bời, cờ bạc, nợ nần cá nhân bên ngoài rất nhiều và không chung thủy với gia đình. Vợ chồng từ đó thường xuyên cãi vã, xô sát khiến hôn nhân không hạnh phúc. Chị H và gia đình đã nhiều lần cho anh S cơ hội sửa chữa nhưng không được. Đến năm 2014, anh S bỏ vào miền N trốn nợ, để mặc chị H một mình chăm nuôi các con, anh S không có đóng góp, hỗ trợ gì đối với chị. Thời gian đầu, chị H vẫn vào thăm song sau đó phát hiện anh S có người phụ nữ khác nên không liên lạc với anh S nữa. Anh S chỉ còn duy trì đi lại, thăm hỏi, liên lạc với gia đình bên nội và các con, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau và sống ly thân nhau được 10 năm nay. Năm 2024, anh S là người đề nghị được ly hôn nhưng sau đó không về giải quyết. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, chị H xin ly hôn anh S.
Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Thanh H1 (sinh ngày 21/02/1993) và Nguyễn Xuân S1 (sinh ngày 23/12/1998), đều đã trưởng thành, không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: không có.
-
Anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ; các giấy triệu tập...nhưng vắng mặt, không có ý kiến phản hồi đối với việc giải quyết vụ án.
-
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến:
Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn anh S; Về con chung: đã trưởng thành, không đề cập giải quyết; Tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không đề cập nên không xem xét; Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng dân sự:
Chị Đặng Thị Minh H khởi kiện vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình với anh Nguyễn Xuân S. Anh S có hộ khẩu thường trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Xác minh với Công an phường T không thể hiện anh S có nơi cư trú nào khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
Chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và cũng không cung cấp lời khai, ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án theo yêu cầu của Tòa án nên đã từ bỏ quyền được tranh tụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh S là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về thông tin nhân thân của đương sự
Tại giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01 do UBND phường P, thị xã H, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là UBND phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình), cấp ngày 25/8/1991 có ghi tên vợ là Đặng Thị Minh H và tên chồng là Nguyễn Xuân S2. Qua xác minh tại sổ gốc đăng ký kết hôn lưu giữ tại UBND phường P thể hiện có sai sót về chính tả trên giấy chứng nhận kết hôn, tên đúng của chồng là Nguyễn Xuân S phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án tại Công an phường T và các giấy tờ khác về nhân thân của anh S. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định chị Đặng Thị Minh H và anh Nguyễn Xuân S có quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Tại giấy khai sinh của chị Nguyễn Thanh H1 (sinh ngày 21/02/1993) do UBND phường P cấp ngày 17/5/1993 ghi tên mẹ đẻ là Đặng Thị H, tên bố là Nguyễn Xuân S. Qua xác minh tại UBND phường P, Công an phường T và các tài liệu nhân thân khác đã thu thập có đủ cơ sở khẳng định, chị Đặng Thị Minh H và anh Nguyễn Xuân S có 02 con chung là chị Nguyễn Thanh H1 và anh Nguyễn Xuân S1.
[3] Về quan hệ hôn nhân
Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị Đặng Thị Minh H và anh Nguyễn Xuân S xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau; anh S nợ nần cá nhân, sống không chung thủy với gia đình để mặc chị H chăm sóc các con. Vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, liên lạc hỏi thăm nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh S không tới Tòa án làm việc, không có văn bản nêu ý kiến phản hồi với yêu cầu xin ly hôn của chị H là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bản thân. Căn cứ lời khai của chị H tại Tòa án, lời trình bày của các con, kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh S đã trầm trọng và không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh S.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung:
Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh H1 (sinh ngày 21/02/1993) và Nguyễn Xuân S1 (sinh ngày 23/12/1998). Cả hai con chung đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự tự thỏa thuận, chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Minh H được ly hôn anh Nguyễn Xuân S.
- Về con chung: có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh H1 (sinh ngày 21/02/1993) và Nguyễn Xuân S1 (sinh ngày 23/12/1998). Cả hai con chung đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: đương sự chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo biên lai số 00004474 ngày 22/4/2025, nay được đối trừ và không phải nộp thêm.
- Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nghiêm Hoài Anh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH - TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH - TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
