|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuân.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh.
- Bà Vũ Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 117/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995 (vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1993 (vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt).
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-4-2025 và bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bầy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lê Văn T năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện L tỉnh Bắc Giang (nay là UBND phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang), trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu và có được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hoà thuận và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do hai bên không cùng quan điểm sống, hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã trong cuộc sống, đến năm 2021 là đỉnh điểm mâu thuẫn của vợ chồng do chị phát hiện anh T nghiện ma tuý và phải đi cai nghiện ma tuý hai năm. Trong thời gian anh T đi cai nghiện, chị vẫn quan tâm đến anh T. Sau khi đi cai nghiện về anh T vẫn không thay đổi bản thân, một thời gian sau anh T lại tái nghiện, chị và anh T đã sống ly thân từ thời điểm đó đến nay. Chị xác định anh T không thay đổi và không có ý trí phấn đấu. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Lê Văn T có 01 con chung là cháu Lê Linh Bảo N1 sinh ngày 30/12/2020. Chị N đề nghị được nuôi dưỡng con chung, về cấp dưỡng không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Văn Tiến trình B:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn với nhau vào năm 2019, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, anh và chị N có đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện L tỉnh Bắc Giang (nay là UBND phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang). Sau khi cưới anh và chị N có về chung sống cùng nhau tại gia đình anh T. Vợ chồng chung sống ban đầu thì hạnh phúc nhưng từ đầu năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bản thân anh nghiên ma túy và phải đi cai nghiện, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay không còn ai quan tâm đến ai. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh thì anh T nhất trí ly hôn với chị N.
Về con chung: Vợ chồng anh có có 01 con chung là cháu Lê Linh Bảo N1 sinh ngày 30/12/2020. Anh đồng ý để chị N nuôi dưỡng con chung, về cấp dưỡng không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Lê Văn T có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tóm tắt nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi con chung là cháu Lê Linh Bảo N1 sinh ngày 30/12/2020. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh T được quyền thăm nom con chung, chị N không được cản trở anh T thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, kiểm sát viên còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N có đơn xin ly hôn với anh Lê Văn T. Bị đơn anh Lê Văn T đang cư trú tại tổ dân phố D, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Lê Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N kết hôn với anh Lê Văn T trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND phường C, thị xã C). Như vậy xác định quan hệ hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã, làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Chị N và anh T đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2021 cho đến nay và không còn ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, chị N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Bị đơn anh Lê Văn T xác định anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh thì anh T nhất trí ly hôn với chị N.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Văn T phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung là cháu Lê Linh Bảo N1 sinh ngày 30/12/2020. Hiện cháu N1 đang ở với chị N, cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn phía anh T đồng ý để chị N nuôi cháu N1. Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của các đương sự là chính đáng và phù hợp nên cần giao cho chị N được trực tiếp nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh T được quyền thăm nom con chung, chị N không được cản trở anh T thực hiện quyền này.
[3.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi con chung là cháu Lê Linh Bảo N1, sinh ngày 30/12/2020. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh T được quyền thăm nom con chung, chị N không được cản trở anh T thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ ngày 23/4/2025 theo biên lai thu số 0003185. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Tống Đăng Mạnh - Vũ Thị Mai |
Nguyễn Quốc Tuân |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Tuân |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Văn T
