Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-6-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Ngọc Anh
  • Ông Dương Công Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1981. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1990. Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ được tự do tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương; đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 04/7/2013. Quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên cãi nhau do anh Hoàng Văn Đ lúc nào cũng trong tình trạng say xỉn, không chịu làm việc đỡ đần vợ, còn thường xuyên đánh đập chị. Gia đình và bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Đến năm 2021, anh Hoàng Văn Đ khác bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay không liên lạc hay hỏi thăm nhau nữa. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân của vợ chồng không đạt được, chị Hoàng Thị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn Đ. Chị Hoàng Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về phía bị đơn, anh Hoàng Văn Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng. Do đó, không có văn bản trình bày quan điểm trong hồ sơ vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh với đại diện thôn Bản Đao, xã T, huyện B cho biết: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ sau khi kết hôn đã xây nhà ra ở riêng. Tuy nhiên anh Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống khoảng 03 năm nay, vợ chồng sống ly thân. Vợ chồng không có mẫu thuẫn báo chính quyền địa phương.

Đại diện gia đình bà Nguyễn Thị O là mẹ anh Hoàng Văn Đ cho biết: Việc kết hôn giữa anh Hoàng Văn Đ và chị Hoàng Thị T là hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng đã xây nhà ra ở riêng. Vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn đánh đập nhau nhưng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã do mẹ vợ thường chửi bới anh Đ thậm tệ. Do không thể chịu được nên đến năm 2021 anh Đ bỏ về nhà ở với bà, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Anh Đ hiện đang làm thợ xây ở đâu có công trình thì đi và vẫn thường xuyên về nhà. Về con chung, tài sản chung, nợ chung là không có. Các giấy tờ Tòa án triệu tập đều được gia đình thông báo cho anh Đ được biết, do anh Đ bận công việc nên không về được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn anh Hoàng Văn Đ không đến Tòa án tham gia trong quá trình tố tụng. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị T đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự như thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình. Còn bị đơn không thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn Đ có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nên quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ là hợp pháp. Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2021, anh Hoàng Văn Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, hai vợ chồng không còn liên lạc hỏi thăm nhau nữa. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự nên Hội đồng xét xử xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị T trình bày là không có, anh Hoàng Văn Đ không có ý kiến tại Tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận chị Hoàng Thị T đã nộp đủ tiền án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003581 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T, bị đơn anh Hoàng Văn Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - UBND xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn Đ được tự do tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương; đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 04/7/2013. Quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên cãi nhau do anh Hoàng Văn Đ lúc nào cũng trong tình trạng say xỉn, không chịu làm việc đỡ đần vợ, còn thường xuyên đánh đập chị. Gia đình và bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Đến năm 2021, anh Hoàng Văn Đ khác bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay không liên lạc hay hỏi thăm nhau nữa. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân của vợ chồng không đạt được, chị Hoàng Thị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger