TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Nguyễn Minh Tùng
- Bà Nguyễn Thị Nhàn.
- Thư ký phiên toà:
Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025, về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Điền Thanh Q, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Hồng N, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Tại phiên tòa: Anh Q, chị N có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - anh Điền Thanh Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Anh Điền Thanh Q và chị Trần Thị Hồng N quen biết, có tìm hiểu nhau khoảng hơn 02 năm, tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2021, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 14/6/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Thời gian đầu sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc; đến khi sinh 02 con thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên dân là do, tính tình cả hai không hợp nhau, bất đồng nhiều quan điểm; vợ chồng không có tiếng nói chung; ngoài ra, chị N là người nóng tính, không kiểm soát được lời nói, hành vi của mình làm cho anh Q cảm thấy không được tôn trọng.
Từ năm 2022, chị N đưa 02 con về sống bên gia đình mẹ ruột; mỗi buổi tối, anh Q có đến phụ chăm sóc con nhưng trong khoảng thời gian này, vợ, chồng không có sự quan tâm, không sinh hoạt chung với nhau; tình cảm lạnh nhạt, không hạnh phúc.
Hiện tại, anh Q không còn tình cảm vợ chồng, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân nên không cần có thêm thời gian để suy nghĩ, hàn gắn tình cảm, tiếp tục chung sống với nhau.
Vì vậy, anh Q yêu cầu ly hôn chị N.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Điền Thanh P, sinh ngày 04/9/2021 và Điền Thanh Đ, sinh ngày 04/9/2021; hiện các con đang sống chung với chị N.
Khi ly hôn, anh Q đồng ý giao 02 con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền 3.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con thành niên và được quyền thăm nom, chăm sóc con theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh Q không còn yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn - chị Trần Thị Hồng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Về thời gian tự nguyện chung sống vợ chồng; có đăng ký kết hôn chị N thống nhất với lời trình bày của anh Q.
Chị N xác định: Vợ chồng mâu thuẫn là do anh Q không có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc chu đáo cho vợ con. Mặc dù, tính tình chị có sự nóng nảy; không kiểm soát được lời nói, hành vi nhưng do anh Q không thật thà trong các mối quan hệ xã hội bên ngoài, không chịu nói chuyện rõ ràng với nhau nên mới phát sinh mâu thuẫn. Từ đó, dẫn đến việc chị có những hành động khiếm nhã, làm cho anh Q cảm thấy không được tôn trọng.
Tuy nhiên, hiện tại chị vẫn còn tình cảm với anh Q và các con còn nhỏ nên cần có thêm thời gian để hàn gắn tình cảm vợ chồng, tiếp tục chung sống với nhau. Vì vậy, chị N không đồng ý ly hôn anh Q.
- Về con chung: Trong trường hợp ly hôn, chị N đồng ý nuôi 02 con chung; đối với số tiền 3.500.000 đồng/tháng của anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, chị N đồng ý, không có yêu cầu gì khác.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị nhung không còn yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau và cũng không có ai giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì thêm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của các bên đương sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho anh Điền Thanh Q và chị Trần Thị Hồng N ly hôn; về con chung: giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của anh Q về việc cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền 3.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con thành niên; về tài sản chung, nợ chung không xem xét, giải quyết; về án phí dân sự sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Xét yêu cầu ly hôn của anh Điền Thanh Q đối với chị Trần Thị Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Điền Thanh Q và chị Trần Thị Hồng N tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2021, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn 14/6/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Q và chị N là hôn nhân hợp pháp; phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
[2.1.2]. Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân từ cả hai phía:
Theo anh Q: Thực tế khi về chung sống với nhau, tính tình cả hai có nhiều điểm không hợp nhau; bất đồng nhiều quan điểm sống; vợ chồng không có tiếng nói chung và sự thấu hiểu, thông cảm cho nhau. Bên cạnh đó, chị N là người nóng tính, không kiểm soát được lời nói, hành vi của mình làm cho anh Q cảm thấy không được tôn trọng. Từ đầu năm 2022, vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Hiện tại, anh Q không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân nên anh yêu cầu ly hôn chị N.
Về phía chị N xác định: Nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng mâu thuẫn là do anh Q thiếu sự quan tâm, chăm sóc chu đáo cho vợ con. Mặc dù, tính tình chị có sự nóng nảy; không kiểm soát được lời nói, hành vi; tuy nhiên, một phần là do anh Q không thật thà trong các mối quan hệ xã hội nhưng lại không chịu nói chuyện rõ ràng với nhau; từ đó, dẫn đến việc chị có những hành động khiếm nhã, làm cho anh Q cảm thấy không được tôn trọng. Hiện tại, chị vẫn còn tình cảm với anh Q và hai con vẫn còn quá nhỏ nên cần có thêm thời gian để hàn gắn tình cảm vợ chồng, tiếp tục chung sống với nhau. Vì vậy, chị không đồng ý ly hôn anh Q.
[2.1.3]. Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh Q và chị N đã không còn hạnh phúc: vợ, chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc cho nhau và thực tế đã sống ly thân. Cả hai đã nhiều lần trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nội tại nhưng không đạt được kết quả và việc hòa giải tại Tòa án cũng không thành. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
[2.1.4]. Từ những nhận định trên, việc anh Q yêu cầu ly hôn chị N là có căn cứ và phù hợp với quy định đã viện dẫn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2]. Về con chung:
[2.2.1]. Thời kỳ hôn nhân, anh Q và chị N chung sống có 02 con chung, song sinh ngày 04/9/2021 tên Điền Thanh P và Điền Thanh Đ; hiện các con đang sống cùng với chị N. Khi ly hôn, anh Q đồng ý giao 02 con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền 3.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con thành niên.
Trường hợp ly hôn, chị N đồng ý trực tiếp nuôi con; đối với số tiền anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, chị cũng đồng ý và không có yêu cầu gì khác.
[2.2.2]. Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “...2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”.
Xét thấy, việc anh Q tự nguyện giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và anh cấp dưỡng nuôi con; chị N đồng ý và không có yêu cầu gì khác; đây là sự tự nguyện của đương sự và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; bảo đảm quyền lợi của con, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2.3]. Sau khi ly hôn, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con; không ai được cản trở. Nếu anh Q có căn cứ cho rằng chị N không còn đủ điều kiện nuôi con hoặc ngược đãi con thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
[4]. Về án phí:
Anh Điền Thanh Q chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, về ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm, về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Điền Thanh Q.
- Về quan hệ hôn nhân:
Cho anh Điền Thanh Q và chị Trần Thị Hồng N ly hôn.
- Về nuôi con chung sau khi ly hôn:
+ Chị Trần Thị Hồng N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, song sinh ngày 04/9/2021 tên Điền Thanh P và Điền Thanh Đ; hiện các con đang sống với chị N.
+ Anh Điền Thanh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung số tiền 3.500.000đ/tháng cho đến khi các con thành niên.
+ Sau khi ly hôn, anh Điền Thanh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con; không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Điền Thanh Q chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, về ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, về nghĩa vụ cấp dưỡng. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, anh Q đã nộp theo biên lai số 0006686 ngày 19/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, anh Q còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Q yêu cầu ly hôn chị N
