Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/6/2025

“Về việc ly hôn giữa ông Lương Cao Cường

và bà Lê Phương Lan"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Việt Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai

Bà Chu Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Lương Cao C, sinh năm 1980; CCCD số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/05/2021;

(Có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Bà Lê Phương L, sinh năm 1979; CCCD số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/05/2021;

Cùng ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Số C phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2025, bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Lương Cao C trình bày:

- Về tình cảm: Ông kết hôn với bà Lê Phương L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngày 31/5/2006. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên

ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà L.

- Về con chung: Ông C và bà L có 02 con chung là cháu Lương Hà N, sinh ngày 27/5/2006 và cháu Lương Cao T, sinh ngày 26/10/2009. Sau khi ly hôn, ông C có nguyện vọng là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Cao T kể từ tháng 07/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; Cháu Lương Hà N đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, ông bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, riêng, nhà ở: Ông C và bà L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung/công nợ: Ông C và bà L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Ông C tự nguyện chịu toàn bộ.

* Đối với bị đơn bà Lê Phương L:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với bà Lê Phương L nhưng không nhận được văn bản ghi ý kiến hoặc thông tin gì của bà Lê Phương L đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lương Cao C.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông C và và bà L ly hôn để ổn định cuộc sống và giữ nguyên quan điểm về các vấn đề khác. Anh C trình bày hiện đang buôn bán kinh doanh tự do thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng, có nơi ở ổn định nên có thể đảm bảo điều kiện nuôi dạy con chung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, về điều khiển phiên tòa; Đối với các đương sự: nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho ông Lương Cao C được ly hôn với bà Lê Phương L; Về con chung: Giao cháu Lương Cao T, sinh ngày 26/10/2009 cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; Về cấp dưỡng nuôi con, ông C và bà L tự thỏa thuận, không

yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung, riêng, nhà ở, nợ chung, công nợ: ông bà không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 31/5/2006, ông Lương Cao C và bà Lê Phương L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp. Nay ông C xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị ly hôn bà L nên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là bà Lê Phương L, có Đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện ở tại: số C phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

[3] Về quá trình tham gia tố tụng: Ông C, bà L chấp hành theo đúng các thông báo của Tòa án. Tại buổi hòa giải và công khai chứng cứ ngày 21/4/2025 và ngày 29/4/2025, bà L đều vắng mặt không tham gia phiên hòa giải, không ký các biên bản, Tòa án đã làm đúng, đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về việc bà L vắng mặt không tham gia phiên hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án mở phiên tòa, bị đơn là bà Lê Phương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt 02 lần không lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Phương L là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về tình cảm: Ông Lương Cao C và bà Lê Phương L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngày 31/5/2006 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số C phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra tranh cãi, bà L nợ nần nhiều, có nhiều người đến nhà đòi tiền, gia đình ông C đã trả nợ thay nhiều lần nhưng bà L vẫn tiếp tục vay nợ. Ông bà sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, ông C không còn tình cảm với bà L. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và để tạo điều kiện cho các bên ổn định cuốc sống riêng, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của ông Lương Cao C và bà Lê Phương L.

- Về con chung: Ông, bà có 02 con chung là cháu Lương Hà N, sinh ngày 27/5/2006 và cháu Lương Cao T, sinh ngày 26/10/2009. Sau khi ly hôn, ông C có nguyện vọng là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Cao T kể từ tháng 7/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác; Cháu Lương Hà N đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết. Theo quy định của pháp luật, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con chưa thành niên. Xét thấy cháu Lương Cao T có đơn đề nghị nguyện vọng được ở với bố là ông Lương Cao C. Do vậy Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để giao cháu Lương Cao T, sinh ngày 26/10/2009 cho ông Lương Cao C trực tiếp trông nom chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông, bà về cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, riêng, nhà, đất ở, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Lương Cao C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 272, Điều 273, Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Lương Cao C đối với bà Lê Phương L.
  2. Ông Lương Cao C được ly hôn bà Lê Phương L.
  3. Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Cao T, sinh ngày 26/10/2009 cho ông Lương Cao C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng nuôi con: ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xét.
  4. Bà Lê Phương L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản.

  5. Về tài sản chung, riêng, nhà, đất ở, công nợ chung: Không có.
  6. Về án phí: Ông Lương Cao C phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí

ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0069383 ngày 03/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

  1. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Việt Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Cao C - Lê Phương L - Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger