Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-5-2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thường
Ông Thạch Ni
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Hà Thị Hải Lý – kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 47/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2025, giữa:

*Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Trú tại: Tổ B, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

* Bị đơn: Đào Thị T1, sinh năm 1975; Trú tại: Tổ B, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: ông T và bà Đào Thị T1 kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số (không có số) đề ngày 10/01/1995

Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn nên thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi cọ nhau, làm cho cuộc sống không có hạnh phúc; Từ tháng 1/2025 cho đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa mà mỗi người sống một nơi. Ông T xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Đào Thị T1.

Về giấy chứng nhận kết hôn, vợ chồng ông T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thái Bình, tuy nhiên do không hiểu biết nên cũng không chú ý kỹ giấy kết hôn không ghi số vào sổ kết hôn và cũng không đề nghị cán bộ làm công tác hộ tịch ghi bổ sung; còn việc giấy chứng nhận kết hôn có sự sửa chữ ở phần ghi ngày tháng sinh ông T, bà T1 thì ông T không biết ai là người sửa chữa.

Về con chung: Vợ chồng ông T có 01 con chung tên là Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995, do con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn bà Đào Thị T1 trình bày:

Về hôn nhân: bà T1 và ông Nguyễn Văn T kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận kết hôn (không có số) đề ngày 10/01/1995 như anh T trình bày là đúng.

Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, do bất đồng quan điểm sống, nên đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2025 cho đến nay. Bà T1 xác định tình cảm vợ đã thực sự hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn T

Về giấy chứng nhận kết hôn, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, tuy nhiên do không hiểu biết nên khi nhận giấy chứng nhận kết hôn, cả hai cũng không chú ý kỹ giấy kết hôn không ghi số và cũng không đề nghị cán bộ làm công tác hộ tịch ghi bổ sung; còn việc sửa chữa giấy tờ (phần ghi ngày tháng sinh của các bên) thì bà T1 không biết ai là người sửa.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con tên là Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995, do con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, các vấn đề khác: không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS);

Về nội dung: Tuy giấy chứng nhận kết hôn do ông T cung cấp không ghi số vào sổ; có sự sửa chữa phần ngày tháng sinh của các bên nhưng các bên đều thừa nhận là có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho ông T được ly hôn với bà T1. Không xem xét giải quyết về con chung (do con chung đã trưởng thành) và tài sản chung, nợ chung (do các đương sự không yêu cầu).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Đào Thị T1, các vấn đề khác không yêu cầu. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn " được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Đào Thị T1 cư trú tại Tổ T, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
  3. Yêu cầu của đương sự:

    Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Đào Thị T1 chung sống với nhau một cách tự nguyện từ năm 1995, theo lời trình bày của ông T, bà T1 thì cả hai có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay đổi tên là xã T), huyện T, tỉnh Thái Bình; tuy nhiên giấy chứng nhận kết hôn do ông T cung cấp đề ngày 10/01/1995 nhưng không có số vào sổ kết hôn; Mặt khác, bà Đào Thị T1 sinh ngày 20/08/1975; ông Nguyễn Văn T sinh ngày 02/03/21975 các ngày, tháng sinh của ông T và bà T1 đã được sửa bằng tay (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền). Theo văn bản số 17/UBND-HT ngày 08/4/2025 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp “...Hiện tại xã T và xã T sáp nhập thành xã T là đúng và do việc sáp nhập hai xã thành một xã nên việc bàn giao sổ quản lý việc sinh, tử, kết hôn không đầy đủ cho nên không còn lưu trữ được sổ quản lý hộ tịch việc kết hôn của công dân đăng ký năm 1995, công dân chưa đăng ký lại kết hôn tại địa phương...”. Theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986 thì “Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định... Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.” Như vậy, giấy đăng ký kết hôn do ông T cung cấp cho Tòa án không ghi số đăng ký kết hôn, có sự tự sửa chữa và UBND xã T cũng không xác định được là các bên đương sự có đăng ký kết hôn tại UBND xã T hay không nên không có cơ sở để xác định có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương hay không nên giấy chứng nhận kết hôn (không ghi số, có sự tự sửa chữa) nói trên không có giá trị pháp lý.

    Mặt khác trong cuộc sống gia đình, ông T và bà T1 không đồng nhất quan điểm, không biết chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ lẫn nhau nên xảy ra nhiều mâu thuẫn, dẫn đến ly thân và ly hôn. Mặc dù ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị T1 xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự hết và đồng ý thuận tình ly hôn nhưng như đã phân tích ở trên, việc đăng ký kết hôn của ông T, bà T1 cũng như giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đề ngày 10/01/1995 không có cơ sở để xác định là hợp pháp, có giá trị pháp lý nên không thể công nhận thuận tình ly hôn của các đương sự mà cần áp dụng Điều 9, 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2015, Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986; điểm c, khoản 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị T1 và hủy giấy chứng nhận kết hôn đề ngày 10/01/1995, không ghi số đăng ký giữa ông T và bà T1 là phù hợp.

    Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Ông T, bà T1 thống nhất là con đã trưởng thành đủ 18 tuồi và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Ông T, bà T1 thống nhất là không có nên không yêu cầu.

  4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 9, 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2015; Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986; điểm c, khoản 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000;

Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Đào Thị T1.

    Hủy giấy đăng ký kết hôn (không có số vào sổ, có sự tự sửa chữa) giữa ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị T1 do UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ký cấp ngày 10/01/1995.

  2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010927 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Viện KSND huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - UBND xã Thuần Thành, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng, hủy giấy chứng nhận kết hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger