Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 3 năm 2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Lê Thế T, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Tổ D, khu F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1991.

    Nơi cư trú trước khi đi nước ngoài: Tổ D, khu F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở Đài Loan.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: Khu Ô, xã V (N là xã N), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

(Anh Lê Thế T, bà Lê Thị L vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Thu T1 vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Lê Thế T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thu T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngày 10/11/2013. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đến năm 2019 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cách xây dựng làm ăn kinh tế. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Là người chồng anh đã cố gắng khắc phục nhưng hai vợ chồng không thể hàn gắn được. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Anh đề nghị ly hôn chị T1 để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh T xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Thu U, sinh ngày 16/8/2016 và cháu Lê Minh N, sinh ngày 31/8/2018. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T tự nguyện chịu toàn bộ.

Phía bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T1 hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 31/QLXNC-Đ1 ngày 09/01/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh P xác định chị T1 xuất cảnh ngày 08/8/2022 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do anh T không biết địa chỉ của chị T1 ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Lê Thị L là mẹ của chị T1 và được bà L cung cấp như sau: Hiện tại chị T1 đang ở Đài Loan địa chỉ cụ thể bà không biết. Nhưng bà và chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc qua Zalo hoặc Facebook, bà L đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho chị T1 và yêu cầu bà cung cấp địa chỉ của chị T1 ở nước ngoài, bà đã thông báo cho chị T1 biết xong chị T1 không cung cấp địa chỉ cho bà để cung cấp cho Tòa án. Thông qua điện thoại bà đã trao đổi nội dung anh T xin ly hôn chị T1 và chị T1 nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh T.

Về con chung: Bà L xác định vợ chồng anh T và chị T1 có hai con chung là cháu Lê Thu U, sinh ngày 16/8/2016 và cháu Lê Minh N, sinh ngày 31/8/2018. Hiện các cháu đang ở với anh T. Chị T1 có quan điểm đồng ý cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị T1 không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.

* Tại tòa, cháu Lê Thu U có nguyện vọng ở với bố khi bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 81,82 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử :

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Thế T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu T1
  • - Về con chung: Giao cháu Lê Thu U, sinh ngày 16/8/2016 và cháu Lê Minh N, sinh ngày 31/8/2018 cho anh Lê Thế T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu U và cháu N trưởng thành. Chị T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đặt ra giải quyết.
  • - Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn (xác nhận đã nộp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 31/QLXNC-Đ1 ngày 09/01/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh P xác định chị T1 xuất cảnh ngày 08/8/2022 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

    Trong vụ án này chị T1 không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

    Anh T đề nghị xin ly hôn với chị T1 và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của chị T1 mà không cung cấp được địa chỉ chị T1 ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua mẹ đẻ của chị T1 là bà Lê Thị L. Bà L đã thông báo cho chị T1 biết, bà L và gia đình không biết địa chỉ cụ thể của chị T1 ở đâu tại nước ngoài, bản thân chị T1 không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được bà L thông báo. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa anh Lê Thế T, bà Lê Thị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế T và chị Nguyễn Thị Thu T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/11/2013 tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo anh T trình bày giữa anh T và chị T1 có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Mặc dù chị T1 không có lời khai xong thông qua bà L là mẹ của chị T1 cung cấp quan điểm của chị T1 cũng nhất trí ly hôn với anh T. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy anh T và chị T1 là vợ chồng nhưng không liên lạc và không biết địa chỉ của nhau, theo đó cho thấy anh chị đã không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau theo nghĩa vợ chồng. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho anh T được ly hôn chị T1 là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
    2. Về con chung: Anh T và chị T1 có hai con chung là cháu Lê Thu U, sinh ngày 16/8/2016 và cháu Lê Minh N, sinh ngày 31/8/2018. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, anh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng. Về phía bà L là mẹ đẻ của chị T1 trình bày chị T1 cũng đồng ý cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.

      Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung là nguyện vọng chính đáng của đương sự nên cần xem xét nguyện vọng phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi cần đảm bảo cuộc sống mọi mặt cho các cháu. Trên thực tế chị T1 đang ở nước ngoài không ở Việt Nam không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu. Các cháu Lê Thu U và Lê Minh N hiện đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại tòa cháu U cũng có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để các cháu có điều kiện sống tốt nhất và ổn định thì cần giao cháu U và cháu N cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của anh T và con chung là phù hợp.

      Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T là yêu cầu tự nguyện phù hợp với pháp luật cần xác nhận.

    3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
    4. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
    5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 2 điều 207; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế T được ly hôn chị Nguyễn Thị Thu T1.
  2. Về con chung: Giao cho anh Lê Thế T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Lê Thu U, sinh ngày 16/8/2016 và cháu Lê Minh N, sinh ngày 31/8/2018. Xác nhận anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

    Chị T1 có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Lê Thế T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000503 ngày 23/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Vân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Thế T đề nghị ly hôn với chị Nguyễn Thị T1 và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger