|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1982. HKTT: Thôn V, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị JUAN, SHIH – SYUAN, sinh năm 1984. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tầng A, số 765, đoạn D, đường B, xóm A, phường T, quận T, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Phạm Văn D trình bày: Anh và chị J, SHIH – SYUAN qua quá trình tìm hiểu, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; theo giấy chứng nhận kết hôn số 04; đăng ký ngày 27/06/2019.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn V, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng hay bất đồng quan điểm sống, ngôn ngữ thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Sau đó một thời gian thì chị J, SHIH – SYUAN quay trở lại Đài Loan (Trung Quốc) để sinh sống và làm việc. Do điều kiện khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không có điều kiện gần gũi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Anh đã nhiều lần cố gắng trao đổi với chị J, SHIH – SYUAN để tìm cách hàn gắn tình cảm, gia đình cũng tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị J, SHIH – SYUAN.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.
Bị đơn chị J, SHIH – SYUAN trình bày: Chị và anh Phạm Văn D qua quá trình tìm hiểu, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; theo giấy chứng nhận kết hôn số 04; đăng ký ngày 27/06/2019.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn V, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Đến đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng hay bất đồng quan điểm sống, ngôn ngữ thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Sau đó một thời gian thì chị quay trở lại Đài Loan (Trung Quốc) để sinh sống và làm việc. Do điều kiện khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không có điều kiện gần gũi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay anh D xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.
Do hiện nay đang ở Đài Loan nên chị đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tại phiên toà nguyên đơn là anh D và bị đơn chị J, SHIH – SYUAN đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D, xử cho anh Phạm Văn D được ly hôn chị J, SHIH – SYUAN. Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Dũng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Phạm Văn D đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với chị J, SHIH – SYUAN. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Văn D trình bày bị đơn là chị JUAN, SHIH – SYUAN có nơi cư trú tại số G, đoạn D, đường B, xóm A, phường T, quận T, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn là anh Phạm Văn D và bị đơn là chị JUAN, SHIH – SYUAN đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Dũng và chị J, SHIH – SYUAN có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, anh D và chị J, SHIH – SYUAN đều xác định năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng hay bất đồng quan điểm sống, ngôn ngữ thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Sau đó một thời gian thì chị J, SHIH – SYUAN quay trở lại Đài Loan (Trung Quốc) để sinh sống và làm việc. Do điều kiện khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không có điều kiện gần gũi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa anh D và chị J, SHIH – SYUAN đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh D là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Phạm Văn D được ly hôn chị J, SHIH – SYUAN.
[2.2]. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Phạm Văn D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn D.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn D được ly hôn chị JUAN, SHIH – SYUAN.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Phạm Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh D đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000305 ngày 16/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Phạm Văn D được ly hôn chị JUAN
