|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 6 - 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Thanh Đoàn và bà Trần Thị Thủy Trân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: (không tham gia phiên tòa).
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-HN ngày 06/3/2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thảo N, sinh ngày 29/7/1995; Địa chỉ: số A, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, Việt Nam. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 24/5/20022 (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông KEE KAI SHENG, sinh ngày 03/9/1998; Địa chỉ: N, Jalan P Taman Desa P Hutan M, Malaysia. Hộ chiếu số A38947813, Malaysia cấp ngày 05/10/2016 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị Thảo N trình bày: Bà và ông Kee K Sheng quen biết, tìm hiểu và cả hai quyết định kết hôn vào tháng 12 năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 03/12/2019). Đến tháng 01 năm 2020, ông Kee Kai S về nước Malaysia và không quay lại Việt Nam mặc dù bà đã liên lạc nhiều lần. Nay nhận thấy giữa bà và ông Kee Kai S không thể tiếp tục duy trì hôn nhân, nên bà xin ly hôn với ông Kee Kai S.
Về con chung: Ông bà có một con chung là Lê Trần Hạ V, sinh ngày 05/01/2020, hiện đang sống chung với bà. Nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Kee Kai S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Kee Kai S đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch xét xử của Tòa án nhưng việc ủy thác không có kết quả. Bà N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Malaysia. Tòa án đã yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Malaysia cho đăng Công thông tin về yêu cầu ly hôn của bà N và đăng trên Cổng thông tin của Tòa án nhưng quá thời hạn ông Kee Kai S không có ý kiến.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn ông Kee Kai S, cư trú tại: N, Jalan P Taman Desa P Hutan M, Malaysia nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn Kee Kai S đã được Tòa án làm thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Lịch xét xử của Tòa án nhưng việc ủy thác không có kết quả trong một thời gian dài. Tòa án đã yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Malaysia cho đăng Công thông tin về yêu cầu ly hôn của bà N và đăng trên Cổng thông tin của Tòa án nhưng quá thời hạn ông Kee Kai S không có ý kiến.
Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 227 và điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung, xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà Lê Thị Thảo N và ông Kee Kai S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 03/12/2019 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, nguyên đơn trình bày từ tháng 01/2020 cả hai không còn sống chung, mặc dù bà N nhiều lần liên hệ ông Kee Kai S đề nghị hai người chung sống lại nhưng không được ông Kee Kai S phản hồi. Ông Kee Kai S được Tòa án thông báo việc bà N xin ly hôn nhưng không có kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn, cũng như không nêu được giải pháp hàn gắn quan hệ. Điều này cho thấy mục đích hôn nhân của bà N và ông Kee Kai S không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Thảo N cho bà N ly hôn với ông Kee Kai S theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Con chung của bà N và ông Kee Kai S là Lê Trần Hạ V, sinh ngày 05/01/2020, bà N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Kee Kai S cấp dưỡng nuôi con. Tòa chấp nhận yêu cầu này của bà N.
[4] Về tài sản chung và nợ chung:
Hội đồng xét xử không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và chi phí tố tụng khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 469, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Thảo N;
- Bà Lê Thị Thảo N được ly hôn với ông ông Kee Kai S.
- Về con chung: Bà Lê Thị Thảo N được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Lê Trần Hạ V, sinh ngày 05/01/2020. Ông Kee Kai S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
(Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Thảo N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000192 ngày 06/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về phí tố tụng:
Bà Lê Thị Thảo N phải chịu phí tống đạt ủy thác tư pháp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng phí tống đạt ủy thác đã nộp theo Biên lai thu tiền số ngày của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Ngoài ra, bà N phải chịu chi phí thực tế ủy thác tư pháp số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu số ngày của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ số tiền này đến khi có Văn bản yêu cầu chuyển tiền của Tòa án tỉnh An Giang về chi phí thực tế ủy thác tư pháp qua Malaysia.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bà Lê Thị Thảo N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Ông Kee Kai S được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Linh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân gia đình, ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thảo N kiện Kee Kai Sheng xin ly hôn
