Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 24-3-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Ngô Thị Luân
  • + Bà Trần Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXX - ST ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bạc Thị Bích C, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Bị đơn: Ông Cao Văn L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C1. Địa chỉ: Tòa nhà C, khu B, phường H, quận H, TP .. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng C1. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bạch Văn T1. Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện L. Theo quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Chắng Khánh Quỳnh L1. Chức vụ: phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện L. Theo Quyết định ủy quyền số 111A/QĐ-NHCS ngày 12/9/2023.

2

(Bà C, ông L có mặt; bà L1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn bà Bạc Thị Bích C trình bày: Bà và ông Cao Văn L xây dựng gia đình với nhau năm 1992, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống đến năm 2008 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, vì con nên bà đã níu kéo để gia đình được yên ấm vợ chồng cùng nhau nuôi con nhưng thực tế thì ông L không thay đổi, không chấm dứt quan hệ với người phụ nữ khác. Đến năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng do ông L không chung thủy và không chăm lo làm ăn phát triển kinh tế mà sa vào nạn cờ bạc, cá độ đá banh ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Do không thể chịu đựng được nữa nên mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng thực tế vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai. Năm 2024 bà C đã nộp đơn ly hôn với ông L nhưng sau đó do con cái khuyên nên bà C đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau khi bà rút đơn về thì ông L không thay đổi mà vẫn tiếp tục đi với người phụ nữ khác và không chăm lo gia đình. Nay bà C xác định không còn tình cảm với ông L nên bà C yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L. Về con chung: bà C xác định vợ chồng có 03 con chung là Cao Thái L2, sinh năm 1994; Cao Hoàng L3, sinh năm 1995 và Cao Nữ Bảo T2, sinh năm 2000. Hiện nay các con chung đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên khi ly hôn bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung bà C xác định vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: bà C xác định vợ chồng có nợ Ngân hàng N chi nhánh huyện L số tiền 800.000.000đồng, nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 50.000.000đồng. Hiện nay số tiền nợ ngân hàng N thì ông bà đã trả hết, chỉ còn nợ ngân hàng chính sách, khi ly hôn bà C xác định vợ chồng tự thỏa thuận về nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn ông Cao Văn L trình bày: Ông xây dựng gia đình với bà Bạc Thị Bích C năm 1992, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được, đến năm 2024 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn như bà C trình bày là không đúng mà do vợ chồng bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề, hiện nay vợ chồng sống chung nhà nhưng cũng đã ly thân, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Vì vậy, bà C yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý. Về con chung ông L xác định vợ chồng có 03 con chung là Cao Thái L2, sinh năm 1994; Cao Hoàng L3, sinh năm 1995 và Cao Nữ Bảo T2, sinh năm 2000. Hiện nay các con chung đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên khi ly hôn ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung ông L xác định vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: ông L xác định vợ chồng có nợ Ngân hàng N chi

3

nhánh huyện L số tiền 800.000.000đồng, nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 50.000.000đồng. Hiện nay số tiền nợ ngân hàng N thì ông bà đã trả hết, chỉ còn nợ ngân hàng chính sách, khi ly hôn ông L xác định vợ chồng tự thỏa thuận về nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C1 do bà Chẳng Khánh Quỳnh L1 là người đại diện tham gia tố tụng có đơn yêu cầu: Theo hợp đồng tín dụng số 6600000723904937/2022/HĐ-TD ngày 05/9/2022 thì bà C và ông L có vay của Ngân hàng C1 tổng số tiền 50.000.000đồng, mục tiêu hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho 01 người, thời hạn cho vay 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 06/9/2027. Nay bà C, ông L ly hôn Ngân hàng C1 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết số nợ bà C, ông L đã vay trong vụ án, bà C có cam kết tự nguyện tại Ngân hàng sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên cho Ngân hàng, không yêu cầu ông L phải cùng trả nên đề nghị Tòa án giải quyết theo cam kết của bà C. Cụ thể Ngân hàng yêu cầu bà C phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 50.000.000đồng, tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng C1 cho đến khi tất toán xong nợ gốc.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà L1 vắng mặt nên không hòa giải được và Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự vắng mặt nhưng không ai không có ý kiến gì. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà C, xử cho bà C được ly hôn với ông L. Về con chung hiện nay các con chung của bà C và ông L đều đã đủ tuổi trưởng thành, phát truển bình thường nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung các đương sự cùng xác định tự thỏa thuận nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về nợ chung các đương sự xác định có nợ Ngân hàng N chi nhánh huyện L số tiền 800.000.000đồng, nợ Ngân hàng C1 – Phòng giao dịch huyện L số tiền 50.000.000đồng. Đối với số nợ Ngân hàng N hiện nay các đương sự đã trả hết nên đề nghị không xem xét; đối với số nợ của Ngân hàng C1 thì Ngân hàng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ này trong vụ án ly hôn và đề nghị giải quyết theo cam kết của bà C, tại phiên tòa cả bà C và ông L cùng thống nhất khi ly hôn mỗi người sẽ trả cho Ngân hàng M vì vậy đề nghị buộc bà C, ông L mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C1 ½ số nợ gốc nêu trên và lãi theo hợp đồng đã ký kết.

Về án phí: Đề nghị buộc bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện tham gia tố tụng của Ngân hàng C1 là bà Chắng Khánh Quỳnh L1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông L chung sống với nhau vào năm 1992 và có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 5 năm 1995 tại Ủy ban nhân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân giữa bà C và ông L được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp.

    Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà C thì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L không chung thủy và không chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Bà C xác định đã chịu đựng nhiều năm, đến nay không còn tình cảm với ông L nên bà C làm đơn yêu cầu ly hôn. Còn ông L xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau và ông L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà C. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà C với ông L là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên hay cãi nhau, trong những lúc nóng giận không kiềm chế được các đương sự đã có những lời nói thiếu tế nhị xúc phạm lòng tự trọng của nhau, thậm chí còn xảy ra xô xát nên cuộc sống không hạnh phúc. Do tình cảm không còn nên mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng thực tế các đương sự đã sống ly thân từ tháng 8/2023, mạnh ai nấy sống vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không đem lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà C, xử cho bà C và ông L được ly hôn.

  3. [3] Về con chung: bà C và ông L có 03 con chung là Cao Thái L2, sinh năm 1994; Cao Hoàng L3, sinh năm 1995 và Cao Nữ Bảo T2, sinh năm 2000. Hiện nay các con của bà C và ông L đều đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không xem xét.
  4. [4] Về tài sản chung: Các đương sự cùng xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.
  5. [5] Về nợ chung các đương sự cùng xác định nợ Ngân hàng N số tiền 800.000.000đồng và nợ ngân hàng C1 số tiền 50.000.000đồng. Sau khi thụ lý vụ án các đương sự cùng xác định đã trả số nợ trên cho Ngân hàng nông nghiệp vào

5

ngày 16/01/2025 và xuất trình chứng từ giao dịch thể hiện đã tất toán khoản nợ trên nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với khoản nợ này.

Đối với khoản nợ Ngân hàng C1 số tiền gốc là 50.000.000đồng, ngày 26/02/2025 Ngân hàng C1 có đơn yêu cầu, theo đó người đại diện tham gia tố tụng của Ngân hàng C1 là bà Chắng Khánh Quỳnh L1 xác định hiện bà C và ông L còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 50.000.000đồng, tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết. Khi bà C và ông L ly hôn Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết theo cam kết tự nguyện của bà C. Tại phiên tòa các đương sự cùng xác định mỗi người sẽ có trách nhiệm trả ½ số nợ trên cho Ngân hàng. Xét thấy, đây là số tiền các đương sự vay trong thời kỳ hôn nhân nên xác định là nợ chung của vợ chồng nên buộc bà C và ông L mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng ½ số tiền gốc nêu trên và tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết.

[6] Về án phí: Bà C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Bà C và ông L mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bạc Thị Bích C, xử cho bà Bạc Thị Bích C và ông Cao Văn L được ly hôn. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/5/1995 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về nợ chung: Buộc bà Bạc Thị Bích C và ông Cao Văn L mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C1 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng C1 cho đến khi tất toán xong nợ gốc.
  3. Về án phí: Bà Bạc Thị Bích C phải chịu 1.550.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005135 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự

6

huyện Lâm Hà, bà C còn phải nộp 1.250.000đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Cao Văn L phải chịu 1.250.000đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (24/3/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
  2. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Luân

Trần Thị Hằng

Nguyễn Thị Như Quỳnh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - THA dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Ban tư pháp nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

- Lưu HSVA.

Nguyễn Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ - ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn bà Bạc Thị Bích Chi với bị đơn ông Cao Văn Lạnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger