Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23-12-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan và bà Trần Thị Minh Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hà G, sinh năm 1994; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P; sinh năm: 1994; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 12 tháng 9 năm 2025 và tại phiên toà, chị Trần Thị Hà G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hà G và anh Nguyễn Thanh P đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) vào năm 2019. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hoà thuận, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị G và anh P đã không sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2023. Nguyên nhân là do quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống của cả hai không còn phù hợp nên chị G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Thanh P.

- Về con chung: Chị Trần Thị Hà G và anh Nguyễn Thanh P có 01 người con chung là Cháu Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 05/6/2023. Chị G có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vân A và không yêu cầu anh Nguyễn Thanh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến gì, không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thông báo lý do vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hà G ly hôn anh Nguyễn Thanh P.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 05/6/2023 cho chị Trần Thị Hà G trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Anh Nguyễn Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Buộc nguyên đơn chị Trần Thị Hà G chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Hà G khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị có thẩm quyền giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đúng trình tự thủ tục tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hà G và anh Nguyễn Thanh P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) vào 04/6/2019, nên quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh P là hợp pháp.

Kết quả xác minh tại địa phương: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị G và anh P sống tại thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị. Thời gian chung sống với nhau, vợ chồng chị G và anh P bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại, chị G và anh P không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh P không có văn bản trình bày ý kiến gì, không tham gia hòa giải, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, thể hiện anh P không có thiện chí muốn đoàn tụ gia đình. Là vợ chồng thì phải yêu thương, chia sẻ, có nghĩa vụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng giữa chị G và anh P không tồn tại được những điều này. Hội đồng xét xử thấy rằng tình cảm vợ chồng của chị G và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần xử cho chị Trần Thị Hà G ly hôn anh Nguyễn Thanh P.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng chị G và anh P có 01 người con chung là cháu Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 05/6/2023. Hiện tại, chị G có công việc là giáo viên mầm non với mức thu nhập 8.000.000 đồng/tháng. Mặt khác, cháu Vân A còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), đang được chị G nuôi dưỡng. Hiện tại, chị G cùng cháu đang sống ổn định tại nhà mẹ đẻ ở xã T, tỉnh Quảng Trị. Mẹ của chị G đồng ý cho chị G cùng cháu Vân A sống tại nhà của mình để thuận tiện trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển của cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giao cháu Nguyễn Thị Vân A cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 5 Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hà G được ly hôn anh Nguyễn Thanh P.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 05/6/2023 cho chị Trần Thị Hà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Án phí: Chị Trần Thị Hà G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000581 ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, chị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND khu vực 6 – Quảng Trị;
  • - THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - UBND xã Triệu Bình;
  • - Công an xã Triệu Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Lê Phương Thảo

4

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Châu Thành

Trần Thị Minh Phúc

Hoàng Lê Phương Thảo

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hà Giang - Nguyễn Thanh Phương "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger