TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/05/2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh;
- Bà Nguyễn Thị Kim Huế.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung.
Hôm nay, ngày 23 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 04 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-DS ngày 06/05/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1985;
- Bị đơn: Ông Đinh Hùng C, sinh năm 1972.
Nơi cư trú: Số I đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Số I đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông C vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày:
Bà và ông Đinh Hùng C kết hôn vào năm 2007 có đăng ký kết hôn theo đúng qui định của pháp luật, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, không có mâu thuẫn gì lớn. Tuy nhiên, khoảng vài năm sau đó ông C thay đổi, đua đòi ăn chơi theo bạn bè mặc dù bản thân không làm ra tiền, cuộc sống hai vợ chồng còn khó khăn nhưng luôn đòi hỏi phải mua xe, mua sắm những đồ dùng không cần thiết trong gia đình, khi không được sự đồng thuận của bà thì chửi bới xúc phạm, đồng thời bỏ mặc vợ con không quan tâm, không lo làm ăn mà suốt ngày chỉ đi chơi cà phê với bạn bè. Bà đã nhiều lần nhờ bố mẹ chồng và gia đình chồng khuyên can nhắc nhở ông C để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không đạt được kết quả, mọi áp lực kinh tế trong gia đình đều do bà gánh vác. Nay mặc dù sống chung nhà nhưng đã không còn hỏi han nhau, không ngủ chung từ 04 năm nay. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà và ông Đinh Hùng C ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Đinh Hoàng Yến L, sinh ngày 19/09/2010; Đinh Gia H, sinh ngày 27/10/2008. Ly hôn bà đề nghị được nuôi 02 con đến khi thành niên, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông C không đến Tòa án làm việc do đó Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà T được ly hôn với ông C là có cơ sở chấp nhận; về con chung: Đinh Hoàng Yến L, sinh ngày 19/09/2010; Đinh Gia H, sinh ngày 27/10/2008 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung các đương sự khai không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Đinh Hùng C; cư trú tại: Số I đường P, phường L, thành phố B. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2].Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về quan hệ hôn nhân:
Qua xác minh tại địa phương, lời khai của các bên đương sự thấy rằng: Bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Đinh Hùng C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật, quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống của vợ chồng khác nhau, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, mâu thuẫn đã kéo dài từ năm 2021 nhưng không có biện pháp khắc phục; mặc dù ông C không đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc thể hiện ý chí bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, bà T không còn tình cảm với ông C, không thể tiếp tục chung sống. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và hợp pháp.
[4]. Về nuôi con chung: Bà T và ông C có 02 con chung là Đinh Hoàng Yến L, sinh ngày 19/09/2010; Đinh Gia H, sinh ngày 27/10/2008. Ly hôn bà T đề nghị được nuôi 02 con đến khi thành niên, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con; xét nguyện vọng của các con là ở với mẹ, bà T hiện có việc làm và thu nhập có thể đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng các con; bị đơn ông Đinh Hùng C không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng các con. Do đó xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung 02 con chung tên Đinh Hoàng Yến L, sinh ngày 19/09/2010; Đinh Gia H, sinh ngày 27/10/2008 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên. Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
[5]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
[6]. Về nợ chung, nợ riêng: Các đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.
[7]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Đinh Hùng C.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Đinh Hoàng Yến L, sinh ngày 19/09/2010; Đinh Gia H, sinh ngày 27/10/2008 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009303 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm).
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử cho ly hôn
