Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ – ST

Ngày 17 tháng 6 năm 2025.

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.
  • + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Đào Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 34/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Thanh X, sinh năm 1981 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

ĐKHKTT: Tổ dân phố A Á, phường T, thị xã S, TP .;

Bị đơn: Anh Trần Trung D, sinh năm 1977; (Vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt);

ĐKHKTT: SỐ B N, phường N, thị xã S, TP .;

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1, xã C, huyện B, TP, Hà Nội;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Tiến B, sinh năm 1979; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

ĐKHKTT: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Phùng Thị Thanh X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Trung D kết hôn với nhau ngày 11/3/2005 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại phường T, thị xã S, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách dẫn đến cãi vã, xô xát, khó khăn kinh tế. Từ năm 2011 đến nay chúng chị ly thân. Về sau anh D vi phạm pháp luật, bị xử phạt tù, hiện đang chấp hành án ở Trại giam S1 Bộ C. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Bằng L, sinh ngày 21/9/2005 và Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007. Hiện cháu L đã trưởng thành, không bị khuyết nhược gì về thể chất và tinh thần nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Hiện cháu N đang ở với chị X, nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong thời gian ly thân với anh D, chị có quan hệ tình cảm với anh Đỗ Tiến B và sinh dược 01 con gái dự định đặt tên là Đỗ Mai A, sinh ngày 24/02/2025 tại Bệnh viện P theo Giấy chứng sinh số 25002064, quyền số 01SS-24 ngày 24/02/2025. Chị và anh B đã giám định ADN để xác định huyết thống cha con. Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 07/3/2025 của Công ty Cổ phần D2 đã xác định anh B và cháu Mai A có quan hệ huyết thống cha con. Vậy chị yêu cầu Tòa án xác định cháu Mai A không phải con chung của anh D và chị X, đồng thời xác định anh Đỗ Tiến B là cha đẻ của cháu Mai A.

- Về tài sản chung, công sức chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Chị X xác định không có.

- Về án phí: Chị X tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/5/2025, bị đơn là anh Trần Trung D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phùng Thị Thanh X kết hôn với nhau ngày 11/3/2005 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại phường T, thị xã S, TP . sáu đó chuyển về chung sống tại H, huyện T, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách, khó khăn kinh tế. Từ năm 2011 đến nay anh chị ly thân. Đến năm 2022, anh D bị bắt và hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1. Nay chị X có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh D, anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh D đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh D được ly hôn với chị X, xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Bằng L, sinh ngày 21/9/2005 và Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007. Hiện cháu L đã trưởng thành, không bị khuyết nhược gì về thể chất và tinh thần nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Đối với cháu N, nguyện vọng của anh D sau khi ly hôn là được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung.

Về cháu Đỗ Mai A: Chị Xuân sinh cháu Mai A khi anh D và chị đã ly thân, nay chị X yêu cầu xác định cháu Mai A không phải con chung của anh D với chị X mà là con chung của chị X với người khác là anh Đỗ Tiến B, anh D nhất trí.

- Về tài sản chung, công sức chung: Anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Anh Dũng xác định không có.

Anh Dũng trình bày hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1 nên xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản tự khai ngày 14/4/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Tiến B trình bày: Khoảng năm 2021, anh có quen biết và quan hệ tình cảm với chị X. Đến ngày 04/02/2025, chị X có sinh được 01 con gái dự định đặt tên là Đỗ Mai A, sinh ngày 24/02/2025 tại Bệnh viện P theo Giấy chứng sinh số 25002064, quyền số 01SS-24 ngày 24/02/2025. Anh B và chị X đã giám định ADN để xác định huyết thống cha con. Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 07/3/2025 của Công ty Cổ phần D2 đã xác định anh B và cháu Mai A có quan hệ huyết thống cha con. Nay anh B yêu cầu Tòa án xác định anh Đỗ Tiến B là cha đẻ của cháu Đỗ Mai A.

Tòa án cũng tiến hành xác minh với Công ty Cổ phần D2. Tại Văn bản số 45/2025/CV-GEN ngày 12/5/2025 của Công ty Cổ phần D2 xác nhận Công ty có tiến hành giám định huyết thống cha con giữa anh B và cháu Đỗ Mai A, kết quả giám định thể hiện trong Phiếu kết quả mã số HID25 39669 (số KQ: 2500355) ngày 07/3/2025.

Tòa án cũng tiến hành hỏi ý kiến cháu Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007 về nguyện vọng được chung sống với ai sau khi ly hôn. Tại Bản tự khai ngày 14/4/2025, cháu N trình bày nguyện vọng được ở với mẹ.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, có ý kiến xin giải quyết vắng mặt nên chị X đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

  • + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Thanh X được ly hôn với anh Trần Trung D. Về con chung: Có 02 con chung là Trần Thị Bằng L, sinh ngày 21/9/2005 và Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007. Hiện cháu L đã trưởng thành, không bị khuyết nhược gì về thể chất và tinh thần nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng nên đề nghị Tòa án không xem xét. Giao chị Phùng Thị Thanh X tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Phùng Trúc N, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Trung D. Xác định anh Trần Trung D không phải là cha của cháu Đỗ Mai A, xác định anh Đỗ Tiến B là cha của cháu Đỗ Mai A. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;

[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là anh Trần Trung D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường N, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn, ý kiến xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Thanh X và anh Trần Trung D kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa Chị X và anh D là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống chị X và anh D có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với anh D, anh D nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị X và anh D là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh D và chị X cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị Thanh X, xử cho chị X được ly hôn với anh Trần Trung D.

[3] Về con chung: Chị Phùng Thị Thanh X và anh Trần Trung D có 02 con chung là Trần Thị Bằng L, sinh ngày 21/9/2005 và Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007. Hiện cháu L đã trưởng thành, không bị khuyết nhược gì về thể chất và tinh thần nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Đối với cháu N, nguyện vọng của anh D và chị N đều là được được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N sau khi ky hôn, không yêu cầu bên còn lại phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của anh D và chị X đều chính đáng. Tuy nhiên do anh D đang chấp hành án, cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ nên việc giao cháu N cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Do chị Phùng Thị Thanh X không yêu cầu anh Trần Trung D cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Trung D cho đến khi có yêu cầu mới.

Sau khi ly hôn, anh Trần Trung D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đối với cháu Đỗ Mai A, sinh ngày 24/02/2025 tại Bệnh viện P theo Giấy chứng sinh số 25002064, quyền số 01SS-24 ngày 24/02/2025: Chị Phùng Thị Thanh X và anh Đỗ Tiến B đã giám định ADN để xác định huyết thống cha con. Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 07/3/2025 của Công ty Cổ phần D2 đã xác định anh B và cháu Mai A có quan hệ huyết thống cha con, nay chị X và anh B yêu cầu Tòa án xác định anh B là cha của cháu Mai A. Anh D1 cũng nhất trí xác định anh B là cha của cháu Mai A.

Hội đồng xét xử xét thấy: Dù cháu Mai A do chị Xuân S ra trong thời kỳ hôn nhân với anh D1 nhưng chị X, anh B đều có lời khai và chứng cứ khoa học xác định anh B và cháu Mai A có quan hệ huyết thống cha con. Anh D1 cũng thừa nhận cháu Mai A sinh ra khi anh và chị X đã ly thân nên không phải con chung của anh với chị X nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định anh Đỗ Tiến B là cha đẻ của cháu Đỗ Mai A.

[4] Về tài sản chung, công sức chung: Chị X và anh D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Nợ chung: Chị X và anh D1 trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; Điều 55; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phùng Thị Thanh X, chị Phùng Thị Thanh X được ly hôn anh Trần Trung D.

2. Về con chung: Có 02 con chung là Trần Thị Bằng L, sinh ngày 21/9/2005 và Trần Phùng Trúc N, sinh ngày 06/8/2007. Hiện cháu Trần Thị Bằng L đã trưởng thành, không bị khuyết điểm gì về thể chất và tinh thần nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Phùng Trúc N cho chị Phùng Thị Thanh X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định, thay đổi khác.

Anh Dũng được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

Về trợ cấp nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Trung D cho đến khi có sự thay đổi khác.

3. Xác định anh Đỗ Tiến B là cha đẻ của cháu Đỗ Mai A ( đã được giám định ADN), tên dự định đặt là Đỗ Mai A do chị Phùng Thị Thanh X sinh ngày 24/02/2025 tại Bệnh viện P theo Giấy chứng sinh số 25002064, quyền số 01SS-24 ngày 24/02/2025.

3. Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Nợ chung : Không có.

5. Về án phí: Chị Phùng Thị Thanh X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị X đã nộp theo Biên lai số: 0001121 ngày 14/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây. Chị X không phải nộp thêm án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - Viện KSND TX.Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ – ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị X ly hôn anh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger