|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2025 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài.
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thành
- Ông Phạm Ngọc Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ:/
Ngày 19 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2025/QĐXX ST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Hồng T, sinh năm 1975.
Nơi cư trú: Số A đường C, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Ông Huỳnh Trí D, sinh năm 1975.
Nơi cư trú: Số A đường C, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ
Nguyên đơn có mặt, bị đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2024 và trong quá trình tố tụng như sau:
Vào năm 1994, bà Phạm Hồng T và ông Huỳnh Trí D tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường A ngày 26/05/2006 (số A). Giữa bà và ông D có hai đứa con chung là Huỳnh Minh D1, sinh ngày 19/5/1995 và Huỳnh Ngọc L, sinh ngày 30/4/2002. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc êm ấm, kinh tế ổn định và hai đứa con lần lượt chào đời. Đến năm 2022 vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt thường xuyên diễn ra. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày. Thời gian dài không khắc phục được, không tìm được tiếng nói chung. Xét thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể sống chung với nhau lâu dài, vì thế bà T yêu cầu được ly hôn với Huỳnh Trí D.
* Về con chung: Bà và ông D có hai người con chung tên: Huỳnh Minh D1, sinh ngày 19/05/1995 đã trưởng thành, không yêu cầu Toà giải quyết và Huỳnh Ngọc L, sinh ngày 30/04/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện các con có cuộc sống riêng và công việc ổn định.
* Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.
Đối với ông Huỳnh Trí D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cùng giấy triệu tập. Ngày 02/4/2025 ông D có bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân quận Bình Thủy thể hiện ý kiến: đồng ý ly hôn với bà T, về con chung: Ông D và bà T có hai người con chung là Huỳnh Minh D1 (nam), sinh ngày 19/05/1995 đã trưởng thành, không yêu cầu Toà giải quyết và Huỳnh Ngọc L (nam), sinh ngày 30/04/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện các con có cuộc sống riêng và công việc ổn định; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cùng ngày 02/4/2025 ông D có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
Do nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện, bị đơn không yêu cầu hòa giải đoàn tụ và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn có mặt và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bị đơn, giữ nguyên yêu cầu về con chung, tài sản chung, nợ chung, bị đơn xin vắng mặt có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào lời tranh luận tại phiên tòa của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục:
Giữa bà Phạm Hồng T và ông Huỳnh Trí D tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, thành phố Cần Thơ năm 2006. Đồng thời ông D, bà T có nơi cư trú tại địa bàn quận B, đây là hôn nhân hợp pháp thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Xét hôn nhân giữa bà Phạm Hồng T và ông Huỳnh Trí D đã phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân theo ông D, bà T là do bất đồng quan điểm sống, bà T và ông D không có tiếng nói chung nên thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Cuộc sống vợ chồng không còn đồng cảm và hạnh phúc như thời gian đầu chung sống.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Ngày 16/4/2025 bà T có bản tự khai nhất quyết ly hôn với ông D vì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Giữa bà và ông D đã ly thân với nhau và mỗi người sống mỗi nơi. Ngày 02/4/2025 ông D có bản tự khai thể hiện ý kiến ông đồng ý ly hôn với bà T, không yêu cầu hòa giải đoàn tụ cũng như cho thấy ông không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng duy trì cuộc sống hôn nhân. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp thuận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Hồng T và ông Huỳnh Trí D là có cơ sở.
[4] Về con chung: Giữa bà T và ông D có hai người con chung là Huỳnh Minh D1 (nam), sinh ngày 19/05/1995 và Huỳnh Ngọc L (nam), sinh ngày 30/04/2002, hai con đều đã trưởng thành. Hiện các con có cuộc sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về phía ông D, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý và thực hiện việc tống đạt Quyết định xét xử theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nhưng bị đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt và cũng đã có văn bản tự trình bày ý kiến của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người vắng mặt Hội đồng xét xử dành quyền kháng cáo cho ông D theo quy định của pháp luật.
[7] Bà Phạm Hồng T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Hồng T được ly hôn với ông Huỳnh Trí D.
- Về con chung: Giữa bà T và ông D có hai người con chung là Huỳnh Minh D1 (nam), sinh ngày 19/05/1995 và Huỳnh Ngọc L (nam), sinh ngày 30/04/2002, hai con đều đã trưởng thành. Hiện các con có cuộc sống riêng, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Phạm Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000019 ngày 27/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/4/2025). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hài |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
