TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 15-4-2025.
V/v: Xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.
Các hội thẩm nhân dân: Ông K' Đào; Bà Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 450/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 17-3-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-DS ngày 01-4-2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H; sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số H T, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Nguyễn Viết H1; sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số B L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bà H, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai, bà Đỗ Thị H trình bày: Bà và ông H1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, đến năm 2019 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kéo dài đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh C, sinh ngày 11-6-2010. Khi ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông H1 đều vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho bà H được ly hôn ông H1; Giao con chung cho bà H nuôi dưỡng, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con; Bà H chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, bà H là nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H1 là bị đơn vắng mặt mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, đến năm 2019 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kéo dài đến nay. Bà H xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông H1 đều không có mặt nên không có lời trình bày về nội dung này. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông H1 đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà H được ly hôn ông H1 là phù hợp.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh C, sinh ngày 11-6-2010. Khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông H1 đều không có mặt nên không có lời trình bày về nội dung này. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh C, sinh ngày 11-6-2010 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Theo bà H trình bày thì vợ chồng tự thoả thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông H1 đều không có mặt nên không có lời trình bày về nội dung này nên không đề cập giải quyết về tài sản trong vụ án này là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H được ly hôn ông Nguyễn Viết H1.
2) Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh C, sinh ngày 11-6-2010 cho bà Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Viết H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định của pháp luật.
3) Về án phí: Bà Đỗ Thị H chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu số 0004443 ngày 19-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(bà H đã nộp đủ án phí).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND Tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Di Linh; - Các đương sự (để thi hành) - Chi cục THADS Di Linh; - UBND thị trấn Di Linh; - Lưu hồ sơ; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Văn Học |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGD
