Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Chiến;
  2. Ông Lê Hữu Nghị.

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 691/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Võ Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T chung sống với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H thất nghiệp, kinh tế gặp khó khăn. Chị T bỏ đi làm ăn xa, anh H nhiều lần liên lạc mong vợ quay về nhưng chị T không đồng ý. Nay thời gian ly thân đã lâu, chị T không có ý muốn tiếp tục chung sống với anh H, tình cảm vợ chồng không còn nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T.

Về con chung: Có 01 cháu tên Võ Văn H1, sinh ngày 24/8/2020 hiện đang sống cùng anh H từ lúc vợ chồng ly thân, nay anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời khai tại Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn anh Võ Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vẫn mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị T là đúng quy định tại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H; giao con chung Võ Văn H1, sinh ngày 24/8/2020 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung anh H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
  2. Nguyên đơn anh Võ Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. [2] Về hôn nhân: Anh H và chị T chung sống với nhau từ năm 2020, có thực hiện việc đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
  4. Anh H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T do anh chị phát sinh mâu thuẫn về kinh tế và tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay không tự hàn gắn được. Mặt khác, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã nhiều lần triệu tập nhưng chị T luôn vắng mặt không rõ lý do, điều này thể hiện chị T không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của anh chị. Do đó, yêu cầu được ly hôn anh H là có căn cứ chấp nhận.

  5. [3] Về con chung: 01 người con tên Võ Văn H1, sinh ngày 24/8/2020 hiện đang sống ổn định cùng anh H, chị T không đến Tòa án trình bày ý kiến về con chung, do đó, giao con chung cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp, ghi nhận anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
  6. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
  7. [5] Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn H đối với chị Nguyễn Thị T.
  2. Anh Võ Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

  3. Về con chung: Giao con chung tên Võ Văn H1, sinh ngày 24/8/2020 cho anh Võ Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
  4. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  5. Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010061 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh H đã nộp xong án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: A, chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Trúc Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger