|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Đèo Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Giàng Thị M, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt có lý do.
2. Bị đơn: Anh Vàng A H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: bản H, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn chị Giàng Thị M trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vàng A H về chung sống với nhau từ năm 2008, đăng ký kết hôn ngày 24/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do không bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở và ly thân với anh H được 08 năm, trong suốt nhiều năm không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị xét thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với anh H nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
2. Về con chung: Chị và anh H có 04 con chung là Vàng Thị L, sinh ngày 10/5/2010; Vàng Pằng Sua, sinh ngày 10/8/2012; Vàng A D, sinh ngày 09/01/2014 và Vàng A T, sinh ngày 20/10/2015. Sau khi ly hôn chị có nguyện giao 04 con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng vì từ khi ly thân các con đều ở với anh H và hai gia đình gần nhau nên chị vẫn thường xuyên thăm nom các con.
3. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Vàng A H trình bày: Anh và chị M về chung sống với nhau từ tháng 11 năm 2008, đến ngày 24/12/2013 đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Trong thời gian chung sống thường xuyên cãi nhau do không hợp nhau. Anh và chị M cũng đã sống ly thân được 08 năm, nhiều lần anh cũng mong muốn chị M quay về nhưng chị M không nhất trí. Việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được bản hòa giải và chị M đã trả lại sính lễ cho anh. Đến nay chị M muốn ly hôn với anh, anh nhất trí nhưng anh không ký biên bản hoặc bất cứ giấy tờ gì vì giữa anh và gia đình chị M còn nhiều việc riêng chưa giải quyết xong. Về con chung: anh xác nhận có 04 con chung như chị M trình bày, nếu ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 04 con chung và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng vì từ khi sống ly thân các con đều ở với anh và gia đình chị M ở cùng bản nên cũng thuận lợi cho việc đi lại của các con. Về chia tài sản chung, nợ chung cho vay chung anh cũng không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là vi phạm về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Giàng Thị M và xem xét quyết định: Chị M được ly hôn với anh Vàng A H; giao con chung Vàng Thị L, sinh ngày 10/5/2010; Vàng Pằng Sua, sinh ngày 10/8/2012; Vàng A D, sinh ngày 09/01/2014 và Vàng A T, sinh ngày 20/10/2015 cho anh H nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Giàng Thị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung và chia tài sản chung, nợ chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Vàng A H có nơi cư trú tại bản B, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Chị M có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 27/5/2025, Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị M và anh Vàng A H đăng ký kết hôn ngày 24/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị M và anh H hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh H là hợp pháp. Quá trình chung sống chị M và anh H hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống khiến cho tình cảm giữa hai vợ chồng không còn. Anh chị đã sống ly thân được 08 năm và cũng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Anh H cố tình không có mặt tại Tòa án và ký vào các biên bản để giải quyết ly hôn vì các lý do riêng của gia đình. Kết quả xác minh tại xã N thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì, bản đã hòa giải cho anh chị nhưng chị M đã trả lại toàn bộ tiền sính lễ. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị M và anh H cũng đã kéo dài, giữa chị M và anh H không còn dành sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, hôn nhân giữa chị M và anh H đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H và anh H cũng nhất trí ly hôn là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: có 04 con chung là Vàng Thị L, sinh ngày 10/5/2010; Vàng Pằng Sua, sinh ngày 10/8/2012; Vàng A D, sinh ngày 09/01/2014 và Vàng A T, sinh ngày 20/10/2015. Chị M có nguyện vọng giao cả 04 con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Xét thấy từ khi sống ly thân, con chung do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và nguyện vọng của các con đều muốn được ở với bố và anh H cũng có nguyện vọng được nuôi các con. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao các con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Anh H không yêu cầu chị M phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về chia tài sản chung: Chị M, anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Giàng Thị M là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên đơn có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị M được ly hôn với anh Vàng A H.
- Về con chung: Giao con chung Vàng Thị L, sinh ngày 10/5/2010; Vàng Pằng Sua, sinh ngày 10/8/2012; Vàng A D, sinh ngày 09/01/2014 và Vàng Anh T1, sinh ngày 20/10/2015 cho anh Vàng A H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Chị Giàng Thị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vàng A H không yêu cầu chị Giàng Thị M cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Giàng Thị M và anh Vàng A H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Giàng Thị M.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Màu xin ly hôn anh Hùng do mâu thuẫn gia đình
