TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12-3-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Bà Nguyễn Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số thụ lý số: 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1982; địa chỉ nơi cư trú: Ấp T, xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25-12-2024, đơn đề nghị không tổ chức phiên hòa giải, đưa vụ án ra xét xử và giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 21-01-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bà Lê Thị B trình bày cho rằng năm 2010 Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H tự quen biết, yêu thương và tiến đến hôn nhân; đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay; hiện bà và Ông Hà Văn H đều đã có cuộc sống riêng, không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được nữa. Thời gian chung sống giữa Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H có 02 người con chung tên Hà Thị Bích N (sinh ngày 01-9-2015) và Hà Chí T (sinh ngày 23-10-2019) hiện đang sống với Bà Lê Thị B. Về tài sản chung, nợ chung giữa Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H không có. Nay Bà Lê Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với Ông Hà Văn H. Về con chung tên Hà Thị Bích N và Hà Chí T hiện đang sống với Bà Lê Thị B, khi ly hôn Bà Lê Thị B yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu Ông Hà Văn H cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung Bà Lê Thị B trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn Ông Hà Văn H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa, Bà Lê Thị B vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Hà Văn H vắng mặt không có lý do; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân cho Bà Lê Thị B ly hôn với Ông Hà Văn H; về con chung, giao cháu Hà Thị Bích N và Hà Chí T cho Bà Lê Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho Ông Hà Văn H không ai được quyền ngăn cản; về cấp dưỡng cho con, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị B là vụ án hôn nhân và gia đình về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; bị đơn Ông Hà Văn H cư trú Ấp T, xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện X thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, Bà Lê Thị B vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Hà Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 126 ngày 30-8-2019 là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo Bà Lê Thị B trình bày vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vả và đã sống ly thân từ năm 2019; hiện bà và Ông Hà Văn H đều đã có cuộc sống riêng, không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được nữa. Qua xác minh địa phương tại Ấp T, xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng không nắm được nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ly hôn giữa Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để đương sự gặp gỡ hòa giải các mâu thuẫn, đoàn tụ nhưng Bà Lê Thị B vẫn kiên quyết xin ly hôn, Ông Hà Văn H nhận văn bản của Toà án tống đạt thông báo về yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị B đối với ông nhưng ông vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện Bà Lê Thị B và Ông Hà Văn H sau khi ly thân thì mỗi người tự sống cuộc sống riêng, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình... là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Xét Bà Lê Thị B yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà Lê Thị B trình bày bà và Ông Hà Văn H có hai con chung tên Hà Thị Bích N (sinh ngày 01-9-2015) và Hà Chí T (sinh ngày 23-10-2019) hiện đang sống cùng với bà, khi ly hôn Bà Lê Thị B yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến thành niên và không yêu cầu Ông Hà Văn H cấp dưỡng cho con; Ông Hà Văn H không có ý kiến gì về vấn đề con chung gửi đến Toà án; cháu Hà Thị Bích N có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với Bà Lê Thị B. Xét thấy, cần tiếp tục giao cháu Hà Thị Bích N và Hà Chí T cho Bà Lê Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt nhất sự phát triển của hai cháu trong thời điểm hiện tại, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Bà Lê Thị B, Ông Hà Văn H và nguyện vọng của hai cháu; Ông Hà Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Lê Thị B không yêu cầu về cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị B trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Hà Văn H không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Lê Thị B phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 14 Điều 3, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lê Thị B với bị đơn Ông Hà Văn H:
- - Về hôn nhân: Bà Lê Thị B được ly hôn với Ông Hà Văn H (Giấy chứng nhận kết hôn số 126 ngày 30-8-2019 tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng).
- - Về con chung: Giao cháu Hà Thị Bích N (sinh ngày 01-9-2015) và Hà Chí T (sinh ngày 23-10-2019) cho Bà Lê Thị B tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đã thành niên; Ông Hà Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng cho con: Bà Lê Thị B không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị B trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Hà Văn H không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Lê Thị B phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008356 ngày 25-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Nhẫn |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
