|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 3 - 2025 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Hùng
- Ông Huỳnh Ngọc Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 396/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Ngọc D, sinh năm 1987; địa chỉ: 81/4 ấp K, xã A, huyện T, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: số 4A3 ấp 1, xã S, Thành phố B, tỉnh B (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1986; địa chỉ: 81/4 ấp K, xã A, huyện T, tỉnh B (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản khai, Đơn xin xét xử vắng mặt trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Mai Thị Ngọc D trình bày:
Chị và anh Q kết hôn vào năm 2008, đăng ký kết hôn ngày 18/6/2008 tại Ủy ban nhân dân xã A, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh Q sống chung có 02 con chung là Lê Thị Mỹ P, sinh ngày 24/12/2008 và Lê Thị Kim T, sinh ngày 05/12/2015.
Nguyên nhân yêu cầu ly hôn: Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, khoảng 04 năm gần đây xảy ra nhiều mâu thuẫn mà không giải quyết được. Vợ chồng thường xuyên cải vả, anh thiếu quan tâm chăm sóc và chị và các con. Ngoài ra anh Q có nhiều lần đánh chị. Vợ chồng đã không sống chung khoảng 01 năm nay, Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn Q, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Lê Thị Mỹ P, sinh ngày 24/12/2008 và Lê Thị Kim T, sinh ngày 05/12/2015; không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Do nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.
Về nội dung: xét lời trình bày của chị D cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thấy rằng trong thời gian chung sống chị D và anh Q đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn đoàn tụ được. Do đó có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh chị D và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Ngọc D, chị yêu câu ly hôn với anh Lê Văn Q nên đây là tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Lê Văn Q cư trú tại số 81/4 ấp K, xã A, huyện T, tỉnh B. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T.
- Về tố tụng: chị D có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.
- Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị D và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 18/6/2008. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
- Xét lời trình bày của chị D cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Q đã trải qua khoảng thời gian dài mất hạnh phúc từ việc chị và anh Q bất đồng quan điểm sống, anh Q không quan tâm đến chị và các con. Chị D và gia đình nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Q không sửa đổi, chị D và anh Q đã sống ly thân, hiện không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Đối với anh Lê Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh Q cho thấy nội dung mà chị D đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh Q là có căn cứ chấp nhận.
- Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị D và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp.
- Về con chung: cháu Lê Thị Mỹ P, sinh ngày 24/12/2008 và Lê Thị Kim T, sinh ngày 05/12/2015 hiện đang sống cùng chị Dài và chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy chị D có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy cháu P và cháu T. Và để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Vì vậy giao 02 con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời ghi nhận việc anh Q không cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không yêu câu.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị D trình bày không có và không yêu cầu giải quyết; anh Q không có lời trình bày về vần đề này, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị D và anh Q được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).
- Về án phí: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
- Quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; các Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị Ngọc D. Chị Mai Thị Ngọc D được ly hôn với anh Lê Văn Q.
Chị D và anh Q không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
- Về con chung: chị D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thị Mỹ P, sinh ngày 24/12/2008 và Lê Thị Kim T, sinh ngày 05/12/2015 và ghi nhận việc anh Q không cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị D trình bày không có và không yêu cầu giải quyết; anh Q không có lời trình bày về vấn đề này nên không xem xét giải quyết. Chị D và anh Q được quyền khởi kiện yêu cầu về việc giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Về nợ chung: chị D trình bày không có và không yêu cầu giải quyết. Anh Q không có lời trình bày về vần đề này nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Mai Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005853 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T xem như đã nộp xong.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Cẩm Nhung |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Mai Thị Ngọc D và Lê Văn Q
